Truyện dài KÝ ỨC TUỔI THƠ

KÝ ỨC TUỔI THƠ

PHẦN I

Tôi sinh ra ở một vùng quê Phú Yên. Làng Phú Thứ nằm dọc theo Con mương dẫn thủy của đập Đồng Cam, tưới khắp cánh đồng Tuy Hoà trù phú. Làng quê yên ả, hiền hoà ấy bị cày xới, sôi sục trong chiến tranh. Chẳng một mảnh vườn, một tấc đất nào không khét mùi thuốc súng. Tuồi thơ được trộn chung với đạn bom và xác người.

Cha tôi làm đủ thứ nghề, mặc dù nghề của ông là dạy học. Ban đêm đi dạy "học trò tổng hợp” - mỗi lớp vài người, dưới ánh đèn dầu đặc biệt được làm bằng chai thuốc đủ chủng loại có lò xo quấn bao lấy bấc đèn. Mỗi khi đang thắp mà nghe kẻng báo động có máy bay, chỉ cần vặn nắp đậy lại là xong. Dù bom vùi, dù đạn lấp miễn đừng có trái đạn nào trúng vào, nó chẳng bao giờ rơi một giọt dầu và, cũng đặc biệt như lớp học của ông: "Điểm danh mà vắng trò nào quá ba bận thì có nghĩa là người đó đã ra đi vĩnh viễn”

Ban ngày, ai cần hớt tóc - có ngay! Ai cần may quần áo - có ngay! Ai cần sửa cái nồi, thùng xách nước - có ngay! Người trong thời chiến tranh làm gì có nhất nghệ tinh! Có những cái chết mà trong làng chỉ có khóc chứ không kèn trống và khiêng ma! Và cũng có những cái chết mọi người chỉ đứng quanh cúi đầu chứ không khóc! Bởi lẽ một quả bom rơi thẳng xuống nhà hoặc một quả đại bác "ùng” ngay giữa mâm cơm! Tìm được gì đâu mà đem chôn, có còn ai đâu để mà khóc. Chị Hai tôi làm nghề may nhưng lại đi bán muối! Không ngồi may chuyên nghiệp được, trẻ con chúng tôi và cả người lớn nữa lấy vải dù pháo sáng, dù máy bay thả đồ ăn may áo quần!. May xong nhúng vào bùn vài lần cho đổi màu để dễ mặc và máy bay địch khỏi trông thấy. Mà vải dù bền vô kể, chỉ đứt đường chỉ chứ rất khó rách. Thế là nghề may được chuyển sang cho cha tôi. Dạo nọ tôi dược một chú bộ đội cho tấm vải dù trắng còn mới tinh, tôi săm se mãi, ướm vào người và nghĩ ra một cách, bèn đến bên cha:

- Ba ơi ! ba may cho con một cái áo mới đi. Một cái áo sơ mi có cổ cứng hẳn hoi đấy ba nhá, con để dành mặc tết!

- Ừ! Ba sẽ may. Con đem ra ao ngâm vào bùn mai đem phơi khô rồi ba may cho.

- Ba cứ may đi. Con ngâm sau cũng được.

Áo ba may xong đẹp lắm, trắng tinh, có cả cổ nữa. Mặc dù cổ mềm xèo nhưng vẫn đẹp vô cùng. Tôi chưa bao giờ sở hữu một cái áo nào đẹp như thế. Áo tôi (hầu hết bọn trẻ chúng tôi) đều loại áo không cổ và đặc biệt không có màu trắng!. Tôi tự hào về nó và tuyệt đối giữ bí mật không ngâm vào bùn.!

1. MỘT VIỆC LÀM TÁO BẠO

Anh ba Sơn có một tiệm sửa xe đạp. Gọi là tiệm cho oai chứ thực ra chỉ dăm cái săm lớp, vài cái vành đã cũ mèm, một khung xe sơn màu xám xịt và thùng đồ nghề lỉnh kỉnh những cờ-lê mỏ-lếch. Tiệm của anh nằm ngay chợ Phú Thứ. Má kể mấy năm trước tiệm buôn bán cũng đỡ lắm, nhưng từ khi chiến tranh về, làm ăn trở nên khó khăn. Vả lại anh Sơn năm ấy đã mười lăm tuổi, thích ngồi nghe những chú bộ đội kể chuyện hơn là sửa xe. Có lúc anh ngồi nhìn bộ đội đi ngang qua – nhìn say sưa, chẳng biết anh nghĩ gì. Nhưng chắc cũng giống như tôi nhìn say sưa chiếc xe đạp anh dựng ngoài hiên. Chiến tranh bắt đầu ác liệt anh vắng mặt ở tiệm nhiều hơn, có khi vài giờ, một buổi hoặc đôi khi cả ngày. Anh đi tôi trở thành cậu chủ nhỏ, tiệm của anh trở thành thế giới của tôi. Anh Hà là anh thứ tư, lúc đó mười hai tuổi, cùng tôi trông coi tiệm. Môt buổi tối, đúng hơn là vừa chạng vạng chưa kịp đỏ đèn, chị Hai đi bán muối trở về tóc tai rối bời, dép đằng dép chân đằng chân, tất ta tất tưởi, kéo theo sau chừng năm người có cả trẻ con:

- Má ơi! Thằng Sơn bị bọn lính bắn chết rồi...!

Mẹ tôi đang cho heo ăn hốt hoảng chạy lên:

- Con nói cái gì? Sao lại bắn chết nó hả trời, nó sửa xe đạp mà!

Mẹ tôi khóc bù lu bù loa. Tôi không khóc như mẹ nhưng nước mắt của tôi chảy dài nóng ran cả đôi má, tôi thương anh vô chừng, anh Sơn ơi!

- Con làm sao mà biết được, hồi xế thấy bọn lính trói dẫn đi, gặp con, nó ra hiệu con đừng có lại, nó bị trói vầy nè, con đi một đoạn tự nhiên nghe hai phát súng , sảng quá chạy lại thì đúng là nó bị bắn quăng xuống mương dẫn thủy mất xác rồi!

Vừa nói chị Hai vừa đưa hai tay bắt chéo trước bụng. Tôi chân tay bủn rủn, đứng thẩn thờ nhìn bộ đồ anh mắc trên vách, nhìn chiếc giường kê gần cửa ra vào mà hằng đêm tôi với anh ôm nhau ngủ. Giờ anh nằm đoạn mương nào hay còn đang trôi theo con nước… Suy nghĩ miên mang, mẹ sai anh Hà chạy tìm ba về. Ba chưa kịp về đã thấy anh Sơn quần áo dính bùn đất, đầu tóc rối bời, ướt mem lao vô nhà. Chưa nói gì anh đã cười toe toe:

- Làm gì tụi nó bắn con được!

Chị Hai tìm áo quần đưa anh Sơn, mẹ lấy khăn vo khô đầu và anh kể lại chuyện xãy ra trưa nay. Tôi, anh Hà ngồi há hốc mồm, đôi khi cười ré lên sung sướng, thích thú. Mẹ, chị Hai thì xít xoa, cứ lạy trời, lạy phật còn cha tôi trầm ngâm không nói gì. Tôi biết cha rất hài lòng vì ánh mắt ông nhìn anh kể, nhìn một cách triều mến. Quả thật anh Sơn của tôi rất cừ, trong mắt tôi anh là một anh hùng. Tôi ngưỡng mộ anh quá sức. Như tôi đã kể ở trên, thời gian sau này anh Sơn hay vắng mặt ở tiệm. Anh lân la theo các chú bộ đội (anh nghĩ phải làm được một việc gì đó để chứng tỏ mình là người đã lớn, can đảm) thế là hôm đó anh xuống Phú Lâm mua phụ tùng xe đạp. Trên đường về tới ga Gò Mầm, thấy lính Cọng hoà đi càn về đang ngồi nghỉ, đánh bài. Có tốp nằm ngủ dưới gốc cây. Anh men lại làm quen, tên lính ngồi gần gốc cây đang thiu thiu ngủ, anh lén lấy khẩu "cạc bin” nhét vô cái hầm ếch bé tẹo được moi sâu dưới gốc cây mà bọn trẻ con chúng tôi hay đào chơi trò đánh giặc giả và cũng để làm hầm tránh đạn, tránh máy bay. Bé bằng cái lỗ mũi, muốn vào phải nằm trường như con rắn mối! Nhét khẩu súng vô hầm xong anh giả bộ uể oải đứng dậy về. Không tên lính nào nghi ngờ, đi được một đoạn bọn chúng phát hiện mất súng nên rượt theo anh. Lẽ ra, rời khỏi chỗ bọn lính anh phải chạy nhanh hoặc trốn đâu đó (mà nếu làm điều này thì chắc khi bắt bọn chúng sẽ bắn anh ngay!). Anh cứ đi lơn tơn, vừa đi vừa xiết mía nên khi bọn chúng rượt tới cũng không thể nói anh lấy súng được. Bọn chúng bợp anh mấy bạt tai, đạp ngã nhào xuống vũng nước gần đó và trói lại. Chúng dẫn anh về quận.

Năm đó anh mười lăm tuổi, ốm nhom và đen nhẻm. Cao lêu đêu như một cây củi khô, giống như đứa giữ bò hơn là cậu chủ tiệm xe đạp. Tóc anh loăng quăn cháy vàng! Màu tóc của tuổi thơ bom đạn, của chiến tranh và cơ cực. Tôi thích nhất ở anh không phải mái tóc, tôi cũng có mái tóc như vậy. Bởi vì mỗi lần mẹ hôn lên đầu tôi người luôn bảo "tóc của thằng Hà em hôi giống mùi chó con của mẹ quá!” Khi đó tôi không thích thế. Tôi rất thích đôi mắt và cái miệng của anh, cái miệng khi nào như cũng muốn cười, kể cả những lần bị cha cho ăn roi mây!. Nếu không có những giọt nước mắt lăn trên má lúc khóc thì tôi cứ tưởng là...anh cười!. Có một bận tôi lén lấy chiếc xe đạp của anh tập đi. Tôi chỉ đi được một kiểu là để chân lên bàn đạp rồi lấy chân kia đẩy cho xe chạy! Và tôi đã cho xe chạy luôn xuống mương dẫn thủy! Bị anh la một trận tơi bời, nhưng lúc đó tôi vẫn thấy…miệng anh như cười! Tôi không sợ nhưng thương anh lắm. Và cũng nhờ chuyện anh lặn xuống mương (gọi là mương nhưng thật ra rất rộng. Ngày ấy tôi đã phải dùng hết sức mới bơi qua được bờ bên kia. Phải rộng hơn một thân tre và sâu thì bằng cả hai thằng tôi chắp lại). Lặn từ chỗ tôi quăng xe, đoạn cầu Phú Thứ đến ga Gò Mầm mất một buổi trời. Chiếc xe bị miếng chắn của ga cản lại và chính cái thùng thiếc rỗng cột sau "ba ga” đã lôi chiếc xe đi xa như vậy. Tại đây anh đã phát hiện ra một hầm bí mật bỏ hoang, sạc lở, hư hỏng khá nhiều, ăn thông qua đường cái dẫn đến một cửa nữa nằm phía dưới bụi tre, lề trên.

Khoảng hai giờ chiều hoặc hơn, bóng ngã đã hai sải chân, trời còn đang nắng chang chang, bọn lính đứa xô, đứa đạp lên người, thúc anh đi nhanh (có lẽ không tìm được súng và cũng không có cơ sở bảo rằng anh lấy nên bọn chúng trút bực bội lên anh) thỉnh thoảng anh lại bị đạp ngã nhào. Lề đường phía trên có nhiều bóng cây, phía dưới là con mương dẫn thuỷ. Gần đến ga Gò Mầm mùi hôi xông lên nồng nặc. Rác, xác súc vật chết, đủ thứ trên đời bị ga cản nên kết lại một mảng lớn. Còn hơn hai trăm mét chợt nhiên anh nhớ đến... cái hầm bí mật!. Anh mừng không tả nỗi, anh mừng phát run lên, và cũng lúc này anh gặp chị Hai, sợ rầy rà cho chị và nhất là sợ...qua khỏi ga! Làm trở ngại ý đồ của anh, may mà chị đi luôn, anh cố đi chậm để chị đi thật xa. Thấy anh đi chậm quá một tên lính xô mạnh vào lưng – anh chỉ đợi có giây này. Thực ra anh có thể nhảy ùm xuống mương, nhưng nếu vậy bọn lính sẽ bắn theo ngay và có thể sẽ bị trúng đạn. Anh chờ một cú đạp, cú đẩy vào người, anh sẽ ngã - cố ngã làm sao thật tự nhiên. Và rồi anh ngã thật, ngã thật...đẹp! rơi "tòm” xuống mương! Phía trên mặt nước là một dề rác rưởi dày cả tấc, anh chìm nghỉm không thấy tăm hơi. Tên lính xô anh rơi xuống nước hốt hoảng chưa biết phải làm sao thì mấy tên gần đó:

- Đ.m. cho nó chết luôn, vớt làm gì!

Lúc đó trên bờ không có người dân nào, chứ nếu có ai nhảy xuống cứu thì phiền to!. Một tên có vẻ là chỉ huy, chỉa súng xuống nước định bắn, ai đó nói:

- Không cần bắn nó cũng chết, ga nước chảy thế này mà bị trói cả hai tay nữa. Chắc chắn nó bị hút kẹt dính vô mấy lỗ của tấm thép chắn ga, chầu Hà Bá rồi.

Tên chỉ huy ngứa tay ấn vào cò súng "đoàng, đoàng”. Hai phát súng khô khốc chìm trong mênh mông biển lúa đang thì con gái. Bọn chúng lại tiếp tục lên đường, dững dưng như chưa hề có chuyện gì xãy ra. Còn về phần anh Sơn khi ngã "ùm” xuống mương, anh lặn một mạch đến hầm bí mật, chui ra khỏi bụi tre. Nương theo bờ ruộng. Những đám lúa sắp làm đòng che chở , bảo vệ anh thoát ra khỏi vùng nguy hiểm.

Từ đó, trong mắt bọn trẻ chúng tôi và cả người lớn nữa - anh không còn là thằng Sơn ốm nhom như que củi! Đi đứng ra vẻ người lớn lắm! Cây súng lấy được anh đem nộp cho mấy anh xã đội. Với công trạng này, anh bị mấy chú trên huyện phê bình cho một trận vì tội liều lĩnh, nguy hiểm nhưng sau đó về được tuyên dương trước toàn đội thiếu niên xã. Tôi sung sướng và tự hào cứ như công trạng đó là của tôi vậy.

Tiệm sửa xe được giao lại cho cha. Vậy là ông kiêm luôn thợ sửa xe, anh Hà giúp việc, còn tôi vẫn chạy long nhong. Anh Sơn được mấy bác ở trên huyện giao công tác liên lạc, oai không chê vào đâu được. Anh nói khi nào đủ mười bảy tuổi, các bác sẽ giao súng và anh dặn cả nhà nếu ai hỏi thì bảo là anh đã mười sáu!

2.CÂY DA LÀNG

Trong nhà, anh Hà là người giống tính cha - trầm tỉnh, ít nói. Anh hơn tôi năm tuổi, dáng người thấp nên chỉ nhỉnh hơn tôi chút xíu, ấy thế mà tôi lại sợ anh nhất nhà. Anh cũng chưa bao giờ đánh tôi, cứ thấy miệng anh mím lại không hiểu sao tôi lại chẳng dám ho he. Có một điều lạ, là anh luôn biết tôi thích gì và, với tôi, anh là người tôi vừa thích vừa sợ.

Năm đó, tôi học lớp năm (lớp một bây giờ). Những năm đầu của chiến tranh, làng quê còn yên ả, lâu lâu có một chiếc máy bay Bà già (L19) bay ro ro tít trên cao. Bé tí như dấu phẩy trên bầu trời. Cỡ nó tôi dùng ná thun bắn cũng rớt! Trong lưng quần tôi luôn lận sẵn một bọc sạn giàng ná thun quàng trên cổ, không chỉ để bắn chim đâu, để...bắn ma và bắn máy bay nữa đấy! Lớp năm của tôi đứa nào cũng vậy cả, ngoài giờ học là đi đánh giặc giả.Thấy máy bay...cũng bắn! Gặp ma cũng bắn! Ma ở đây nhiều vô cùng, bờ dứa, bụi tre cũng có ma, mương nước, giếng lạng (giếng bỏ hoang) cũng có ma. Mà đặc biệt, gần nhà và trường của tôi - nghĩa là mỗi ngày đi học tôi đều phải đi qua một nơi mà ai nghe cũng rùng mình - "cây da”! Từ cầu dưới Phú Thứ đến cầu trên cây da nằm quãng giữa, Từ đường cái dọc mương dẫn thuỷ đến đường liên thôn bên trên, cây da cũng nằm...ở giữa!. Nói chung, nếu "con ma cây da” xuất hiện thì chỉ cần”phoóc” một cái là...đứng sát chúng tôi ngay nên chúng tôi trang bị ná thun để... phòng thân!

Nhà tôi có một đám ruộng sào rưỡi nằm gần cây da, do phải thường xuyên đào chuột, đuổi chim phá lúa cùng với cha tôi và anh Hà nên...”con ma cây da” có vẻ cũng thân thiện với tôi hơn! Và điều này làm bọn trẻ con cùng lứa phục tôi sát đất. Rất nhiều lần tôi cam đoan với bọn chúng rằng "con ma cây da” đồng ý để bọn chúng đến...sờ vào thân cây!

- Thật đấy, mình đã từng...leo lên cây mấy lần!

- Bạn có bắn trúng con ma nào không?

- Mà nó không có bàn chân chớ gì!

Tôi giải thích :

- Ma quen chớ có bắn! Mình chỉ niệm nam mô a di đà Phật "họ” sẽ không làm gì đâu. Mẹ bày thế, y chang!

Dù có nói cỡ nào, dù cam đoan ra sao bọn chúng cũng chỉ lao nhao lấm lét đưa mắt nhìn cây da.

- Eo ui! Chưa tới cây da, đi ngang qua giếng lạng đã rùng mình. Có lần mẹ mình nhìn xuống giếng thấy có một con ma...xanh lè! Đang nhe răng trắng ỡn cười...với mẹ!

Con Vân là đứa nhát gan nhất trong bọn. Vừa nói nó vừa len vào đứng giữa nhóm. Thằng Ngọng lên tiếng:

- Uị...ụi...ụi mình quề...quề nhà i...! Ao...ao ợ dắm.

Thằng Ngọng nói chưa dứt, chợt từ rất xa có tiếng gì kêu ro ro, nó vển tai, hốt hoảng:

- B..à...b...à bà bà g..i...à !

Không ai bảo ai cả bọn chúng tôi cùng chạy thật nhanh tìm chỗ núp. Cái con bà già này mắt như mắt cú vọ, các chú bảo thế, nó không biết bắn nhưng biết kêu canh nông thả "ùng”xuống nhà mình! Bọn tôi núp dưới gốc cây thật kín đáo, không còn lo nữa. Đứa nào cũng sẵn sàng ná thun trong tay, đạn đã...lên nòng! Chỉ còn kéo căng dây thun...bụp! Là máy bay rơi các...”đồng chí” ạ!

Dường như nó sợ hay sao mà bay thật cao rồi tự nhiên đổi sang hướng khác, xa tít tắp mất hút vào trong mây. Bọn tôi thở phào, quàng ná thun vào cổ. Tôi đứng sát nhỏ Vân, mặt nhỏ bổng tái méc ú ớ như bị trúng gió, tay chân quơ quơ, lào khào:

- M...ì...n...h... Ơ...ơ…!

Bọn tôi hốt hoảng chưa biết phải làm sao thì "thằng Phú con thầy Tàu” giọng lơ lớ:

- Chời ơi! Ma cây-zzzzaaaa !

Vừa nói nó vừa đưa bàn tay run rẩy chỉ lên cây da. Hoá ra vì lo chạy núp máy bay mà bọn tôi không để ý, ma xui quỉ khiến thế nào lại chui vào núp dưới cây da! (thật ra, tôi cũng sợ lắm nhưng như kể ở trên, tôi vẫn thường đuổi chim ăn lúa ở đây cùng cha hoặc anh Hà nên hơi quen, vả lại ở đây đang đông người và, hơn thế, tôi không muốn...mất mặt với nhỏ Vân! Tôi không muốn Vân...cười tôi!)

- Làm gì mà các cậu cuốn lên thế. "Ma cây da”...quen mình...! mình ở đây hoài mà, có sao đâu.

Tôi cầm tay nhỏ Vân cho nó bớt sợ (tôi nghĩ thế). Định nói thêm gì đó với các bạn và Vân thì anh Hà từ xa phía bên, đường trong làng đi tới. Nghe bọn tôi kể chuyện vừa rồi, anh cười:

- Tụi bây sợ gì! Anh với thằng Hà em ở đây hoài, buổi trưa nóng không muốn tắm mương lại múc nước giếng lạng tắm nữa là.

Tôi dựa hơi anh:

- Có bữa làm rớt gàu em còn khiều lên nữa anh hè!.

Tôi chạy lại dưới gốc da.

- Các bạn tới đây chơi đi!

Không hiểu sao, khi đó tôi hăng như một chú gà choai. Bám vào rễ da to bằng bắp chân lòng thòng xuống đất, leo thoăn thoắt lên cháng ba. Bọn bạn có vẻ bớt sợ khi anh Hà xuất hiện. Lúc thấy tôi ngồi vắt vẻo trên cháng ba cây da bọn chúng mới men lại gần. Máu nóng trong người tôi chạy rần rần, tôi nhìn xuống Vân:

- Leo lên đây chơi các bạn ơi!

Chưa dứt lời thì có tiếng mẹ Phú kêu về, Phú chạy tới chỗ mẹ, các bạn chạy theo. Tôi hốt hoảng mặt mày tái méc, luống cuống không biết đường nào xuống. nhìn lên tán cây đen sì những hình thù quái gỡ, tôi đâm chột dạ

- Bạn xuống đi, từ từ coi chừng té.

Tôi hoàn hồn nhìn xuống, Vân vẫn còn đứng bên dưới

Anh Hà ngồi trên bờ đám ruộng, nhe răng:

- Còn chờ gì mà không xuống hở ông tướng!

Hình ảnh

3. TRÒ CHƠI

Thằng Phú bằng tuổi tôi, nhưng nó trắng trẻo phốp pháp, lại cao nên nỗi bật lên trong nhóm bạn đen cháy và còm nhom! Nhà nó giàu nhất làng. Cha nó là "Thầy Tàu” chính gốc. Anh Hà bảo " ông Thầy Tàu giống y chang Tôn Sĩ Nghị”. Anh đưa cả hình Tôn Sĩ Nghị ở trong sách truyện tranh lịch sử cho tôi xem nữa, giống thật!

- Tôn Sĩ Nghị là giặc Tàu, còn cha thằng Phú là ông Thầy Tàu bán muối với lại nước mắm mà sao hai người giống nhau ghê anh hén, trong làng này đâu ai giống thế!

Anh Hà giảng giải một hồi nhưng tôi chả hiểu gì, chỉ láng máng một điều rằng ông ta ở xa tít tắp tận đâu đâu.

Trước đây trong nhóm bạn không có Phú, mà bọn tôi cũng chẳng thích chơi với nó. Con trai gì mà y cục bột! Quần áo tươm tất, đi đứng như...con gái! Nhưng đổi lại, tính Phú hiền lành, nhút nhác và, đặc biệt vườn nhà Phú rất rộng, trồng nhiều cây ăn trái. Cứ mổi tháng đôi lần, cha Phú xuống thị xã Tuy Hoà chở hàng, nguyên hai xe lam đầy ắp muối và nước mắm. Cứ mỗi lần thế là bọn trẻ chúng tôi lại kéo đủ bộ đến nhà Phú, trèo tót lên cây. Nào xoài, ổi, mận. Đứa nào đứa nấy ăn cành hông, tuơ cả miệng, ních thêm mỗi đứa gáo nước trong ảng, bụng phành lặc lè, kéo cả lũ ra đường cái quan, đu xe ngựa xuống ga Gò Mầm chơi trò đánh giặc giả với bọn xóm dưới. Bọn chúng tôi dân xóm trên nên tụi Gò Mầm gọi là "Việt Cọng” còn chúng xưng là "Quốc Gia”, nhưng chúng đích thị là bọn Nguỵ! Gọi thế bởi nhiều lẽ - qua khỏi ga Gò Mầm có một cái đồn lính Cọng Hoà, sáng bọn chúng đóng quân tại đây chuyên soát đàn bà con gái đi chợ qua lại. chẳng biết là soát cái gì, chỉ thỉnh thoảng nghe bọn chúng cười tô hố, còn các mẹ các chị thì chạy tán loạn.

Trong khi chờ tụi "Gò Mầm" tới để chia phe đánh giặc giả. Bọn chúng tôi cùng túa xuống đám ruộng vừa mới gặt xong. Mùi rạ mới thơm nồng. Những gốc rạ chỉa lên tua tủa, cọng nào cọng nấy to bằng ngón tay út, láng cháng đâm lủng chân như chơi. Cào cào châu chấu bay loạn xạ, những chú sâu róm mập cui, mủm mỉm, đen mềm như nhung, đu trên ngọn lúa gặt sót, cung vòng. Lúa được mùa nên bông nào bông nấy vàng óng, hạt nằm sắp lớp đều tăm tắp trông mê tơi. Tôi đưa mắt quanh đám ruộng, những bông lúa rơi lại nhiều ghê! Chỉ cần nhặt mấy đám quanh đây cũng đã non phần giạ lúa. Có lẽ cùng nghĩ như tôi nên thằng Ngọng cúi xuống lượm ngay hai bông to bằng cái liềm gặt, mặt hí hững. Tôi nói mà không như lòng mình đang nghĩ:

- Không thèm lượm! Ta đi "đánh giặc" không thèm lượm lúa...của nó!

Ngọng chưng hửng, Phú "thầy Tàu" nhanh nhẩu:

- Mình pắc cào cào, châu chấu thôi, pắc cho chim ăn!

Đức "lì" lên tiếng:

- Đen về tối rang ăn!

Khi Đức "lì" vừa nói xong, cả bọn như chùng tay. Ngọng nhìn mấy bông lúa trên tay tiếc rẻ, quăn xuống trước mặt, đám cào cào được dịp bay tứ tán. Cào cào, châu chấu là những món "nhấm nháp" khoái khẩu của bọn tôi, nhất là những khi mùa gặt về. Thường là khi xong một "trận" giặc giả, hoặc đem cơm, xách nước ra đồng cho ba mẹ. Trên đường về, với một bao nilông trên tay vừa đi vừa bắt, về tới nhà cũng bộn cào cào nhảy rào rạo trong bao. Lấy một cọng tre xiên qua từng chú, huơ huơ trên ngọn lửa tan tành những áo xanh áo đỏ. Vác "chiến lợi phẩm" ra đường uơ uơ vài tiếng là cả bọn tập trung. Không hẹn nhau nhưng hầu như đứa nào cũng một xâu cào cào trên tay! Quơ đâu đó một nắm rơm với dăm cục phân bò khô, thế là ngồi xây quanh đống lửa nhấm nháp. Cào cào được nướng đều trên lửa rơm, vàng sém, thơm phức. Bỏ vào miêng...bụp một cái dòn tan, béo ngậy lại ngọt bùi, thơm lựng.

Tất nhiên lượm lúa thì tốt hơn rồi. Nhưng khi nghe tôi nói có lý nên tụi bạn...đành quăng đi. Từ đầu mùa gặt đến giờ, bọn tôi kiếm được cũng bộn lúa. Mẹ tôi giữ để khi nào đủ thì may cho...Đức "lì" một cái áo, mua mấy tập vở. Với lại cho nó...làm vốn sau này! Thực ra, Đức "lì" hồi đầu năm nó chỉ là Đức không thôi. Chỉ tội ít nói, còn tính nó hiền như củ khoai. Dạo đầu năm, nó đi học,cha mẹ đi làm đồng, bồng theo đứa em kề nó, lên ba tuổi vì để ở nhà không ai trông. Gặp buổi giặc đi càn, cha mẹ nó sợ quá bồng luôn đứa em chui vô hầm "ếch" đào để tránh máy bay núp. Xe tăng giặc chạy băng qua ruộng, chạy băng qua chổ hầm cha mẹ và đứa em đang núp. Thế là chẳng người nào còn sống, và cũng không ai biết cả. Chỉ thấy tối không về. Tưởng là bị giặc bắt đi xuống quận. Mọi người xuống quận dò hỏi khắp nơi nhưng không ai biết. Năm ngày sau, những người làm đồng gần ruộng của nó nghe mùi...xác người! Tìm và phát hiện ba, mẹ và em nó trương phình. Thế đấy! Từ đó, nó đã ít nói càng ít nói hơn. Nó không còn ai người thân, bị bom đạn chết hồi còn ở trong Phú Nhiêu. Nhà nó dời ra Phú Thứ chừng hai năm nay. Gìơ thì trơ trọi chỉ mình nó trên đời! Bọn chúng tôi thương nó nhiều hơn...là ghét "lì" của nó. Đang hăm hở bắt cào cào thì xung quanh ào ào như giặc dậy:

- Tấn cô ô ô ô ô ô ô ô ô ông!

Sự phản xạ trong chiến tranh nó đã trở thành "xương máu" cho những đứa trẻ thơ chúng tôi, những đứa trẻ còn đang giữ...cức trâu trên đầu. Nên sau tiếng hô tấn công của bọn "Nguỵ" Gò Mầm (tên gọi tôi vừa chợt nghĩ ra) thì năm đứa bọn tôi, tất cả đều nằm rạp xuống ruộng, bất kể là những "chông rạ" chỉa lên tua tủa. Súng trong tay đạn đã lên nòng, Ngọng nằm bên cạnh khều khều:
- Tao..tao...tao rớt đạn khi...khi nhảy...nhảy...nhảy xe ngựa...!

Tôi móc trong cạp quần hai viên bi đất đưa cho Ngọng, mắt gườm gườm:

- Liệu hồn, bắn cho trúng nghe chưa. Thôi, để dành đi, để dành...phòng thân!

Một tên "địch” cầm túm lá trên tay như tấm khiêng che đạn, tay kia xách một bị đất cục, liều lĩnh xáp gần chỗ Phú "thầy Tàu". Phú là "lính mới" nên vừa thiếu kinh nghiệm "trận mạc" lại vừa chưa được...đào tạo sử dụng vũ khí chuyên nghiệp. Nó lóng cóng thế nào mà giàng ná thun đã nổ "phạch" một tiếng nhão nhẹt, còn hiệu quả thì như mây như khói. Khôi nằm bên cạnh gắt um:

- Bắn...như lỗ đít! Chưa nhét đạn mà bắn...

Phú định nói gì đó lại thôi. Nó tiếp tục làm động tác bỏ bi vào miếng da ná thun, thằng địch móc một hòn đất trong bị, chắc là định "câu" canh nông vào Phú. Tôi kéo căng sợi dây thun "phựt" tên địch nhảy loi choi như đỉa phải vôi, quăng cành lá cùng bị đất, quay lui chạy thục mạng. không bỏ lở cơ hội, tôi vùng dậy:

- Xung phoooooooong!

Thực ra trận địa chưa biết kẻ ăn người thua, nhưng bỗng dưng phe nhà đang có người chạy có cờ, đối phương lại tràn lên như bão lũ, bọn Gò Mầm đội hình tự nhiên rối loạn, mạnh ai nấy chạy, mà chẳng biết vì sao. Phú không quen chạy, nhất là chạy trên ruộng mới gặt. Không có kinh nghiệm chẳng dễ gì chạy, phải đưa bàn chân xiên xiên với gốc rạ, gốc rạ mới chịu nằm xuống. Còn Phú thì chạy như...con kiến càng trên chảo lửa, như chú ngựa đóng móng bị sai, cà thọt cà thọt, cà nganh cà nganh không nhịn cười được. Kể ra cũng không trách nó, nó bị té lia chia. Mặt mũi, thân hình vằn vện những bùn đất, bộ dạng càng "quái chiêu". Mà dường như càng chạy nó càng hăng:
- Pắc lấy bọn nó...chém đầu "tế cờ" anh em ơi...!

Chẳng ai hình dung được tình huống này. Bọn Gò Mầm thấy bộ dạng và nghe Phú nói như thế lại càng chạy hăng. Chúng chạy tán loạn. Leo lên tới bờ mương, đứa nhảy ùm xuống nước, đứa chạy qua đường ga. Tôi hét Phú "Thầy Tàu” đừng rượt nữa.
Trận đấu chưa đánh đã thắng, công đầu phải kể đến Phú. Chúng tôi tập trung lại bên ga, nhìn Phú bê bết bùn đất, mặt mày tái méc:
- Công nhận cậu "chiến” thật đấy.

Khôi gầm gừ nhìn Phú:

"Chiến” nhưng bắn ná thun như...củ khoai từ!

Đức "lì” góp lời:

- May thằng Hà "em” "đớp” một phát vào giò chớ không là mày tiêu dên rồi!

Sự hung hăng, can đảm của Phú biến đâu mất. Bộ mặt nhút nhát, hiền lành lại về với nó:

- Ngộ...ngộ...pắn mà không có...lạn, lạn pị dớt lâu dồi, ngộ dã pộ cho nó tin!

Bọn tôi cười như nắc nẻ. Những chiếc xe ngựa lên Phú Thứ quãng nữa buổi đã lóc cóc tới ga Gò Mầm. Tôi lội xuống bàu bẻ một lá súng ụp lên đầu, rủ cả bọn đu xe ngựa về cầu Phú Thứ, chợt thấy bên bót gác có mấy người dân, kẻ ngồi, người đứng. Một chiếc xe ngựa chạy lên, chúng tôi hờm sẵn. Xe qua khỏi bót gác là a lê hấp! Đứa nào đu được thì đu.


Bọn tôi kéo đến gần bót gác núp nắng. Mấy người dân bị lính Cọng Hòa thu mất giấy căn cước ngồi tụm quanh bót gác. Có vẻ như hôm nay mấy chú lính không bình thường, không chọc ghẹo đám con gái đi chợ nữa, mặt mày người nào cũng ra vẻ lầm lì, quan trọng. Chợt từ hướng Phú Lâm chạy lên một chiếc xe "ríp” Mỹ. Ba người lính Cọng Hòa nhảy ra khỏi xe, phía sau có một người mặc đồ "sơ vin” đeo gương đen to tướng, cùng đi lại bót gác. Ngọng thầm thì vào tai tôi:

- Hình…hình…như…

Tôi gắt:

- Cậu im xem. Lính đuổi đi bi giờ!

Tôi chưa dứt lời, có tiếng quát:

- Mấy ông nội oắc con ra kia chơi!

Cả bọn lùi dần ra, Phú cố bám chút bóng mát của bót gác, bị tên lính đi đầu đá vào mông, nó nhảy loi choi:

- Ối! chời lấc ơi...lâu quá...lâu quá!

Tên lính nổi khùng tưởng Phú chọc, xách tai cậu ta đứng dậy:

- Mày dám chọc ông đấy hả, ôn con?

Mặt Phú xanh dờn, lắp bắp:

- Ngộ...ngộ...lâu ngộ lâu lít mà...

- Nó là dân ba Tàu đó, tao biết!

Tôi đứng mé sau bót gác nhìn xéo ra người mặc đồ "sơ vin”: "Đúng là người này thấy quen quen, không biết gặp ở đâu. Ông ta đeo gương đen to, tràm nửa mặt khó nhận, nhưng...cái sẹo…!”

Ngọng ghé sát tai tôi:

- Hình…hình…như…



4.…CHIẾN TRANH


Trường lớp đã bắt đầu thưa thớt học sinh. Những gia đình khá giả, buôn bán hoặc ít ruộng vườn, đóng cửa nhà, dắc díu nhau ra ngoài Mỹ Lệ, hoặc lên quãng trên tránh bom rơi đạn lạc. Vài gia đình có bà con ở Thị xã thì thuê xe lam chuyển đồ về dưới đó. Chiến tranh đã mom mem tới gần. Lính đi "càn” dày hơn, ruộng đồng bị xe tăng xéo nát chưa kịp trở mình lại bị bom đạn cày xới. Nhóm bạn chúng tôi gia đình đứa nào cũng nghèo, cũng bám víu vào mảnh ruộng nên chưa dám đi đâu. Nhà thằng Phú là dễ đi xuống Thị xã nhất nhưng cha nó…lại không chịu đi! Cha nó nói: - "Càng chiến tranh càng dễ buôn bán!” Thế là nhà nó chuyển lên Thạch Thành. Ở đó tương đối yên tĩnh.

Phú Thứ là vùng giáp ranh. Đôi khi năm ngày nữa tháng, lính Cọng Hòa "càn” lên đóng quân vài ngày – Cách mạng rút lui vào "bí mật”. khi lính rút thì đâu lại vào đấy. Cuộc sống của người dân cũng thế mà…thích nghi. Bọn trẻ con chúng tôi là "thuận lợi” nhất! Ngày nào cũng đến lớp, học thì ít mà đi lang thang, tắm mương, đánh giặc giả, hái trộm ổi…thì nhiều. Chơi riết trò chơi "trẻ con” cũng chán. Tôi muốn mình lớn nhanh để đi "uýnh giặc” như các chú bộ đội, như anh Sơn của tôi. Đánh nhau bằng súng thật thì thích hơn nhiều, "đùng” một cú là ngã quay lơ, chẳng bù với giàn ná thun: "bịch” một phát, "bọn địch” phủi đít nhe răng cười hì hì!

Phú "thầy Tàu” mấy hôm nay không đi học, chắc ba nó sắp đưa cả nhà lên Thạch Thành. Nhóm thiếu một đứa tự nhiên buồn ghê. Cha tôi cho người chở cát, sạn, sắt, xi măng về chất đống trước sân. Không phải cha xây nhà đâu, làm hầm tránh đạn, tránh "canh nông”. Hầm được đúc bê tông cốt thép chìm dưới mặt đất. Cả Phú Thứ, hầm tránh đạn của nhà tôi là kiên cố nhất. Tôi hỏi cha:

- Thế làm hầm là nhà mình không đi đâu nữa hả ba? Lỡ lính lên ở luôn đây thì sao!

Cha ngồi xuống ôm tôi vào lòng:

- Ba làm hầm cho nhà ta tránh đạn, hầm cũ không an toàn con ạ! Khi cần, ba sẽ chuyển cả nhà đi.

Căn hầm vừa xong, cha cùng anh Sơn vội từ biệt gia đình để lên núi. Ngày ấy tôi còn bé quá, nào biết được gì đâu, cứ ngỡ đi đâu đó rồi lại trở về. Căn hầm cha làm mà chưa một lần chui vào tránh đạn, chị Hai và anh Hà, tôi cũng buồn, nhưng buồn trong sự chia ly, buồn trong nỗi thiếu vắng. Mẹ như linh cảm điều gì, xin cha với anh Sơn chậm lại dẫu chỉ một ngày: - "Một ngày thì có mấy tí hở mẹ?” - Tôi nói. Mẹ không nói gì, thẩn thờ hết lấy đồ cha đơm lại cúc áo, vá chỗ sờn trên vai anh Sơn, mẹ không khóc nhưng nước mắt cứ lăn dài trên má. Cha cũng buồn vì phải xa vợ và các con. Suốt buổi chiều hôm ấy, tôi cùng anh Hà đều ở nhà, chị Hai nghỉ một ngày bán muối. Chẳng ai thấy anh Sơn buồn cả, vì lâu nay anh rất ít khi ở nhà, đi liên miên có khi năm ngày, nữa tháng mới ở nhà một đôi ngày nên có thể anh quen. Nhưng không phải thế, tôi biết anh rất buồn, anh dặn tôi đủ điều, dặn cả anh Hà, chị Hai, cả mẹ nữa.

Từ đó, nhà tôi không còn những bữa cơm đầy đủ người. Tôi đã bắt đầu thấy nhớ cha, nhớ anh. Đã bắt đầu biết nếu không có cha sẽ như thế nào – mọi chuyện trong nhà đều một tay mẹ, từ việc đồng áng đến heo gà bếp núc. Anh Hà chính thức làm "chủ” tiệm sửa xe. Công việc thấy tưởng như vẫn thế, tưởng như thiếu cha, thiếu anh mỗi người chỉ làm thêm tí chút là xong, nhưng tôi thấy chẳng xong chút nào. Mẹ làm mà hồn vía cứ để đâu đâu, cứ giật thót mình khi nghe tiếng bom ì ầm phía núi. Riêng tôi sẽ không còn bị cha rầy, anh mắng, được "tự do” hơn, nhưng sao khi thiếu vắng tôi lại thấy thèm mỗi lần chạy chơi về được nhìn cha, được thấy anh dựng xe ngoài ngõ, chạy vào nhà uống vội gáo nước rồi đi ngay, nhưng vẫn yên lòng vì có anh. Giờ thì có vẻ như trầm trọng hơn, xa hơn và…Tôi không biết nữa! Nhưng thấy mẹ hay lo lắng, u buồn, chị Hai thỉnh thoảng đi bán về ngồi kể chuyện chiến sự ở đâu đó mà chị nghe được làm cho mẹ càng thêm hoang mang. Tôi thương mẹ, thương anh, nhớ cha đâm ra ghét đánh nhau. Tôi thề là sẽ không thèm đánh giặc giả nữa!

Chiến tranh, súng đạn đã thật sự đến với làng quê. Xe bọc thép cày nát ruộng đồng, lính Đại Hàn, linh Cọng Hòa mặt mày sát khí, lăm lăm súng trong tay, lùng sục từng ngóc ngách, xới tung, đốt sạch những đống rơm, ủi bật từng bụi tre. Con mương dẫn thủy hiền hòa, tắm mát bọn chúng tôi trong những trưa hè, nuôi sống cả cánh đồng phì nhiêu Tuy Hòa bỗng chốc trở thành người chuyên chở những xác chết. Ban đầu thì đôi ba ngày, từ đâu trôi ngang Phú Thứ một vài thây người trương phình, căng cứng. Bọn trẻ con chúng tôi chẳng bao giờ dám nhìn. Bất kể vào lúc nào, cứ mỗi lần có xác người trôi về mẹ đều tất tã chạy đến xem! Và người im lặng gạt nước mắt quay đi. Những người nhà ở gần đó chung tiền hoặc công sức, kéo người chết lên, khâm liệm tử tế và chôn bên vệ đường. Sau, người chết trôi về thường xuyên và nhiều nên dân làng không làm xuể. Hơn nữa, trong làng bây giờ hầu như không còn đàn ông, trai tráng. Thanh niên số thì đi lính Cọng Hòa, số thì như anh Sơn tôi, lên núi theo Cách mạng, phần còn lại là những người bệnh tật, ốm yếu, phụ nữ và trẻ con. Lúc ấy quả thật tôi không hiểu tại sao người lớn lại "chia phe” đánh giết nhau, thả trôi sông, trôi mương như vậy, lại có cả những người lính tận đẩu tận đâu cũng đến đây bắn giết.

Đúng là thời kỳ khủng khiếp, xác chết không người chôn trôi xuống ga Gò Mầm bị ga cản lại nên lớp củ lớp mới lèn chặt, ngày nối ngày xếp kín cả đoạn mương. Súng cứ nổ, bom cứ thả người chết ngày cứ nhiều thêm. Những con chó chạy qua chạy lại hai bên bờ, chúng rượt đuổi nhau trên những xác người. Đến lúc chúng cũng không còn sức để chạy nữa, chúng no lặc lè, căng phành bụng. Có lẽ từ dạo ấy, chiến tranh đã dạy chúng tôi không biết sợ, quên đến chai lỳ của sự chết chóc. Bọn tôi không dám lên đường cái quan, chẳng phải vì sợ những thây người rệu rã thịt xương, cũng không phải sợ gặp ma – chuyện nhỏ! Chúng tôi sợ mùi xác người!

Con người không thể hít thở liên tục cái mùi xú uế đặc quánh của xác người chết ngày này qua tháng nọ, và thế là xóm làng hè nhau gỡ những tấm chắn của ga. Dẫu ai gan dạ cỡ nào khi nhìn tấm chắn được gỡ cũng đều nhắm mắt. Một cảnh tượng hãi hùng, xác người nằm đã lâu ngày, được ép chặt như nêm cối giờ được dịp di chuyển, lại xô đẩy nhau lao xuống ga, nước đổ như thác – chẳng còn gì nguyên vẹn, không một hình hài, một mớ hổn độn, nhầy nhụa. Những thân thể ấy sẽ đi về đâu? Những hình hài ấy rồi được ráp nối ra sao trong thế giới bên kia? Có lẽ lúc ấy chẳng ai đủ tâm trí mà nghĩ ngợi. Dòng mương lại trở về với dáng vẻ tươi mát, hiền hòa như nó vốn có. Nhưng có ai biết rằng chính con mương thân yêu ấy đã ôm trong lòng biết bao thân xác con người, đã hòa tan ngàn vạn thịt xương của bao linh hồn, ngày ngày tưới xanh ruộng đồng. Lính Cọng hòa, Đại Hàn cùng xe tăng, súng ống lần lượt kéo xuống hướng Phú Lâm. Làng quê cũng dần im tiếng súng, trả lại sự bình yên cho thôn xóm. Sự yên bình trong hiu hắt. Nhà cửa toang hoác những dấu vết đạn bom, ruộng vườn xe tăng bánh xích vằm nát, cây cối bật gốc, trụi ngọn đứng chơ vơ. Nhà tôi bị sạc một góc phía bếp do quả "đại bác” cắt đứt cây keo đập xuống. Căn hầm cha tôi làm là nơi trú ẩn gần năm gia đình, "kiên cố không chê vào đâu được” – ai cũng bảo vậy! Con tự hào về cha lắm, cha ạ!

Quãng trên cầu Phú Thứ dưới - một đoạn, gần nhà tôi có lùm keo chừng ba mươi cây. mọc bao quanh khu đất trống, chẳng cây nào còn nguyên vẹn. Duy có một điều kỳ lạ là: Cây Da to lớn cỡ đó mà chẳng hề hấn gì, không một nhánh gãy, không một dấu vết đạn bom. Bọn chúng tôi bàn với nhau:

- Đích thị là cây Da thiêng rồi!

- Ma ở đây là ma lớn…Thiêng lắm!

- Chẳng phải ma, ma…không giỏi vậy! Nó chỉ chuyên môn nhác người…

- Nó…nó…nó tu lu…luyện…lâu…lâu năm…

- Không phải ma, là cây Da thần!

Từ dạo bọn tôi đến bên gốc Da núp máy bay, cây Da ít nhiều không còn bí hiểm nữa. Tất nhiên ai chẳng sợ ma! Cây giờ đã được bọn tôi…phong thành thần! Thần khác ma nhiều lắm. Luôn cứu giúp con người và, nơi nào có thần thì ở đó chẳng bao giờ có ma quỉ! Với suy nghĩ ấy, cây Da trở thành điểm hẹn của chúng tôi.

Anh Hà nghỉ ở tiệm sửa xe mấy ngày, rủ tôi ra ngoài đường cái, cách nhà chừng trăm mét đào…hầm bí mật! Mẹ cũng đồng ý. Từ dạo lính rút, máy bay "bà già” hay lượn lờ trên trời lắm. Thỉnh thoảng phát hiện được điều gi, chúng gọi "canh nông” từ Hòa Phong "câu” lên hoặc kêu máy bay chuồn chuồn bắn "rốc ket” xèo xèo. Mẹ nói: "Đào hầm ngoài đường để các con có cái mà núp nếu lỡ chạy về nhà không kịp”. Gọi là hầm bí mật cho oai chứ thật ra chỉ là cái hàm ếch nhưng với óc "sáng tạo”, anh Hà chọn một lùm cây dại mọc ven triền đường, đào cái lổ như miệng cống xiên xiên. Anh dùng cái cuốc bé tí lượm được của lính Cọng Hòa, cởi trần ngồi cuốc từng lát mỏng, tôi phụ trách việc cào đất bưng đổ xuống hố bom gần đó. Trông anh ngồi làm giống y con chuộc chũi đào hang. Đường hầm dài chừng hơn hai sải tay, vừa đủ một người bò lom khom. Áng chừng hang đã ăn sâu trong đường cái quan, anh bắt đầu moi hầm rộng ra chừng bằng chiếc chiếu, đủ cho hai anh em chúng tôi và còn có thể thêm được độ ba người nữa, anh động viên:

- Ráng chút xíu em, chừng đến trưa là xong. Mình có chỗ núp lỡ còn người đi trên đường…Tội họ! Với lại rộng rãi thế này ngồi thích hơn.

Đến trưa trật mới xong. Quả là một công trình "vĩ đại” mà lần đầu tiên tôi được tham gia, khác xa căn hầm bé tẹo mà bọn tôi hay đào đánh giặc giả. Hai anh em đang định dọn cuốc, mủng ra về chợt nghe tiếng gì đục đục, rền rền làm những cục đất trên vách hầm rơi xuống, anh Hà bò ra chưa tới cửa đã vội thụt vào, thở hổn hển:

- "Canh nông” bắn dữ lắm!

- Dễ chừng chúng lại đi càn…

- Ừ!

Tôi định bò ra coi, anh Hà kéo chân lại:

- Mầy đừng, để anh ra cho.

Nói xong anh trườn ra cửa hầm, cửa quá bé, tôi nom mãi mà chẳng nhìn được gì. Anh nói vọng vào:

- Xóm sau có nhà đang cháy. Hình như gần ao rau muống chỗ bụi tre bật gốc nhà mình bị một quả, đất tươi roi rói…

Ngồi tận trong hầm, nghe anh Hà nói lao thao không chịu được, tôi cố ép người sát đất trườn dưới bụng anh, nhoi đầu nhìn ra ngoài trời. Tôi cố rướn mạnh nhìn ra lổ ánh sáng ít ỏi ngoài miệng hầm, nhìn về hướng nhà mình. Như chú nhái bén mang trên lưng con ếch, hai anh em lấp ló ở miệng hang. Xóm làng vắng ngắt, không một tiếng chó sủa, đây đó vài cột khói đang bốc cao. Bỗng như có ai kéo những tấm tôn chạy trên đường cái "sàn sạt” tiếng rít rợn người. Anh Hà chỉ kịp hét: "canh nông!” Cả người anh trùm kín lấy tôi, miệng hầm sụt một mảng lớn, đất cát rơi tứ tung, những tiếng nổ nối tiếp nhau "ùng ùng” căn hầm như rung lên. Qua cơn khiếp đảm chúng tôi thụt vô lại trong hầm, nhìn anh đầu tóc, mặt mũi, áo quần dính đầy đất. Tôi vẫn còn run:

- Anh có bị gì không? Khiếp thật!

- May mà không có quả nào rớt…trúng hầm!

- Khi nãy anh sụm xuống tui cứ tưởng…

- Tại mầy chen phía dưới chứ không anh đã "phóc”vô hầm rồi.

Chợt nhiên anh im lặng, vểnh tai ra ngoài nghe ngóng. Như có tiếng "phạch phạch” giống ai đó đang giặt chiếu ngoài mương. Tiếng "phạch phạch” nhiều lắm, to dần. Tôi cũng căng tai lên nghe nhưng chẳng đoán được gì:

- Thôi về anh! Đạn hết nổ rồi, về nằm hầm nhà sướng hơn.

Tôi lui cui xách cái mủng chui ra cửa, anh Hà ngăn lại:

- Khoan, để anh xem đã.

Anh bò từ từ ra cửa, núp bên bụi cây dại nhìn dáo dác, bỗng anh tụt nhanh vô hầm, thở như bị ai rượt. Tôi tò mò, sè sẹ ra xem, anh chụp chân kéo lại, tôi quẫy mạnh bò nhanh. Núp bên bụi cây nhìn quanh, chẳng thấy gì. Chợt từ đâu đó có ai đang nói chuyện, hình như mọi người đã đi ra đường, đông và nhộn nhịp. Tôi đứng thẳng người lên cho dễ chịu:

- Về thôi anh ơi…!

Chưa nói hết câu, nhìn sang bên kia mương, cơ man nào là lính Cọng Hòa đứng từng dãy dài. Tiếng thét của anh Hà chìm trong tiếng hô đứng lại, tiếng súng nổ. Không phân biệt được gì, như bản năng, tôi chỉ nghĩ đến mẹ, đến ngôi nhà cần phải về, và sau lưng sự nguy hiểm phải tráng xa. Thế là tôi chạy, chạy bất kể đất trời. Súng nổ như rang bắp, đạn cày "chíu chíu” trên đường. Tôi chạy như bay nhưng sao đoạn đường dường như cứ xa thêm. Ở trong nhà, mẹ cùng rất đông người hàng xóm cũng chạy ra, vừa chạy vừa khóc, toàn phụ nữ và trẻ con. Tôi đang chạy tự nhiên cảm thấy như nhẹ tênh, như bay bổng. Chơi vơi chân không chạm tới mặt đất, sau lưng, anh Hà đã ra khỏi hầm, đứng giữa đường cái quan hai tay đưa lên trời, khóc như mưa: "Em của con…Đừng bắn em con…!”.

Sau đợt chết hụt (mọi người đều gọi như vậy) chứ thật ra tôi vấp phải hòn đá toét ngón chân. Nếu bắn vào tôi thì đã tan xác pháo rồi. Mà "Việt Cọng” gì bé tí tẹo, chạy tụt cả quần…! Cái xóm đông vui ngày nào giờ còn lại ba gia đình. Nhà bác Hai Trong, nhà nhỏ Vân và nhà tôi. Bác Hai Trong còn một mẹ già gần chín mươi tuổi, lụm cụm, mù lòa. Vợ bác với hai anh con trai bị một quả canh nông "rơi lạc” trong vườn làm cả ba chết không toàn vẹn. Giờ bác chẳng muốn đi đâu nữa.Cũng như nhà tôi, dì Liên đợi tin chú Dũng (ba Vân). Tình hình này dì dễ đem nhỏ Vân về ngoại trên mạn sông Đồng Bò.

Sáng nay mẹ lên Thạch Thành thật sớm, dường như là có tin tức gì đó trên chỗ ba, còn anh Hà xuống Phú Lâm mua thêm phụ tùng xe đạp. Nhà vắng hoe, tôi rủ nhỏ Vân lấy cù quéo ra mé đường hái keo:

- Không biết tụi thằng Ngọng, thằng Khôi ở đâu Vân nhỉ?

Vân im lặng, vê vê ngọn lá trong tay nhìn tôi:

- Vân nhớ ba quá Hà em ơi!

- Mình cũng nhớ ba, nhớ anh Sơn nữa.

Vân rơm rớm nước mắt:

- Đêm nào nằm mơ cũng thấy ba về…

- Vân thấy được ba là thích rồi!

- Nhưng khắp người ba đầy máu…

Tôi đến bên cầm tay Vân nói như để an ủi chính mình:

- Đừng nghĩ bậy Vân nhá. Mẹ bảo chiêm bao là không thật đâu.

Hai đứa đi lững thững ra đường cái quan. Tôi chỉ tay về hướng ngọn núi xa mờ trong sớm mai:

- Những người làm cách mạng đều ở trên đó cả, an toàn lắm, chú Ngọc chủ tịch vẫn nói thế mà!

Vân kéo tay tôi nép vào thân keo:

- Máy bay "bà già”kìa!

Tôi lắng tai, mắt nhìn qua kẽ lá. Tiếng u u lớn dần. Chiếc "bà già” ánh bạc lấp lánh, đủng đỉnh như một kẻ rảnh rang đi dạo. Mà không phải đi dạo, nó như kẻ cắp gian manh, rình rập. Đang bay, nó như muốn dừng lại, liếc xéo, nhìn ngang, vòng lui, hạ thấp. Mấy chú du kích mỗi lần nhìn thấy nó tức muốn lộn ruột. Cỡ nó "cắc bùm” là tiêu tùng liền. Tôi quay sang Vân:

- À! Trưa nay nếu mẹ chưa về, Vân qua nhà ăn cơm nghe.

- Mẹ nấu cơm sáng để phần trưa rồi.

- Chị Hai nói dạo này muối bán được lắm!

- Mẹ Vân bảo ráng đi vài chuyến nữa rồi dọn nhà về ngoại.

Tôi đá mạnh cục đất nằm bên vệ đường:

- Chán quá!

Vân tròn mắt nhìn tôi:

- Chán gì cơ?

- Không biết!

- … ?

- Mình ghét đánh nhau. Chiến tranh là cái gì mình không biết, nhưng mình ghét nó, mình căm thù nó. Mình thề sẽ…

- Sao Hà em… hôm nay hung thế?

Một tốp máy bay ném bom giàn hàng ngang từ hướng Phú Lâm bay lên cắt đứt câu chuyện bọn tôi. Tôi cầm tay Vân chạy men theo hàng keo về nhà. Chiếc "Bà già” bay dọc theo đường cái quan, thấp lắm, tưởng chừng như cầm cù quéo đập cũng trúng. Bay lên đâu quãng Cầu Trên rồi quẹo lại, vòng vài lần biến mất. Hai đứa ngồi trước miệng hầm:

- Sao kỳ thế Vân nhỉ? Hình như nó đang tìm cái gì đó…

- Ừ! Chưa bao giờ mình thấy nó bay thấp như thế.

"Ùng! Ùng! Ùng!” Những tiếng nổ liên tiếp hất bọn tôi ngã nhào. Hai đứa hốt hoảng chui vô hầm, khiếp đảm nép thật sâu bên trong góc. "Ùng! Ùng…!” Căn hầm đặc quánh mùi bụi đất, tranh rơi. Bỗng cửa hầm tối sầm lại. Tôi kinh hoàng:

- Nhà sập rồi!

Chưa nói hết câu, một ngọn lửa đỏ ối phủ kín miệng hầm. Khó thở quá tôi há miệng thật to vẫn thấy khó thở, quần áo như đang bốc cháy. Thèm thở quá! Muốn hít thật mạnh nhưng không được nữa rồi ngực tôi căng cứng. Lửa lại tràn vào, căn hầm rực sáng, Vân nằm mềm nhũn bên cạnh và rồi tôi ngất đi…


Khi tỉnh lại, căn hầm ướt sũng nước. Không biết bọn tôi ngất bao lâu và chẳng nhớ được chuyện gì vừa xảy ra. Ngồi trong bóng tối lòa nhòa, mùi tro than ngai ngái, nồng nồng phả vào mặt, nước lạnh thấm vào người khiến tôi tỉnh hẳn. tôi hốt hoảng quay sang bên cạnh, Vân nằm lấp sấp trong nước cũng đang lồm cồm ngồi dậy. Chúng tôi bò ra miệng hầm. Một cảnh tượng tan hoang đang hiện ra trước mặt. Ngôi nhà thân yêu giờ còn lại đống tro than. Những thân gỗ cháy đen được nước mưa dập tắt nằm chỏng chơ. Đồ đạc ngổn ngang, vụn nát. Mưa vẫn đang to, tôi đưa mắt nhìn sang nhà bác Trong, thảng thốt:

- Cháy rồi! Cả nhà Vân… trời ơi! Cả xóm cháy trụi trơn…

Tôi dẫm bừa lên than gỗ, mảnh sành chum vại. Tôi chạy bất kể trong màn mưa trắng đục, Vân liu xiu, ngã nghiêng theo sau. Tôi lao qua vườn nhà bác Trong:

- Bà ơi! Bác ơi…!

Tôi bỗng khựng lại, ngôi nhà đã ba lần cháy sập vì bom đạn, cứ mỗi lần làm lại ngôi nhà nhỏ đi một ít, đến lần thứ ba nó như một cái chòi giữ vịt. Trên thềm nhà trống hươ trống hoát được nước mưa giội sạch, lổm nhổm giữa đồ đạc vỡ vụn là hai xác người cháy đen, co quắp trong tư thế cõng nhau. Tôi như chết điếng, đứng sững. Bỗng như có ai đó xô vào người, tôi thẩn thờ quay lại, Vân tái méc, ướt sủng nước ngả oằn vào tôi. Thời chiến tranh, xác người chết là không hiếm, tôi đã gặp đã thấy nhiều vô kể những thây người chết, kinh khủng có, bình thường có nhưng cảnh bác Trong cõng mẹ già không kịp chạy thoát, chết ngay trên hiên nhà. Tay bà vẫn còn đang ôm chặt cổ bác – những người đã gắn liền với tôi thời thơ ấu, đã bồng bế, yêu thương tôi giờ không còn nữa. Trời đang mưa, người tôi ướt sũng nước, có vị gì đó mặn mặn trên môi, tôi dụi dụi mắt. Súng nổ đì đùng khắp nơi, tôi nhìn Vân:

- Chẳng biết mẹ với chị Hai có gì không?

- Hà em ơi!… Vân sợ lắm – mẹ ơi!


Phạm Tú Uyên
(còn tiếp)



KÝ ỨC TUỔI THƠ (Tiếp theo)

PHẦN II

LƯU LẠC


Hướng nào cũng có đánh nhau, Anh Hà đang ở Phú Lâm chắc không sao. Nghĩ thế, tôi nói với Vân:

- Mình lên phía trên tìm mẹ với chị.

Vân im lặng theo lời tôi, hai đứa chạy lúp xúp lên hướng Thạch Thành. Mưa ngớt hạt nhưng bầu trời còn một màu xám xịt. Đất bị cày xới nhảo nhẹt dưới chân, thỉnh thoảng một tràng súng liên thanh nổ dòn phía sau, bọn tôi lại ngồi thụp xuống một thân cây bật gốc, một ụ đất nào đó tránh đạn. Làng xóm hoang tàn đổ nát, bên những hố bom toan hoác đất tươi và, trên cánh đồng lúa mênh mông xanh rì, hai đứa trẻ chạy xiêu vẹo trong màn mưa trắng đục. Bọn tôi đến gần cây Da "thần” hồi nào không hay. Đạn bom chẳng chừa một ai, cây Da to là thế mà giờ chỉ còn trơ lại trụ gốc. Một tán lá sum suê biến đâu mất, những thân rễ khổng lồ lòng thòng bao quanh cũng được cắt gọn. Cây Da "thần” huyền bí của tuổi ấu thơ giờ gần như không còn nữa. Dưới gốc ngay mặt đất có một cái lổ đen ngòm trơ ra, miệng to áng chừng bằng cái nia. Một giọng nói phát ra từ trong hốc cây:

- Trời đất! Bom đạn thế mà bọn bây đi ngơ ngơ ngoài đó vậy hở? Vô đây nhanh lên tụi con!

Bác Ký nhà ở sau chợ lồm cồm chui ra kéo hai đứa ngồi xuống gần hốc cây. Tôi kể giọng lào khào, tiếng được tiếng mất. Càng kể càng tủi thân hai đứa khóc òa:

- Con Hai với con mẹ Dũng hồi tờ mờ sáng bác gặp ở ngoài soi, nghe đâu tụi nó lên bán ở quãng Đồng Bò, mà tụi bây…

Vân nức nở:

- Con đi tìm mẹ, con sợ lắm…!

Bác Ký xoa đầu Vân, định kéo hai đứa vô hốc cây thì từ phía ga Gò Mầm tiếng gì "ì ì” như sấm rền, trên nền trời nhiều chấm đen xuất hiện. Tiếng ai đó hốt hoảng:

- Xe tăng! Máy bay Chuồn Chuồn bà con ơi!

Không ai bảo ai, trong hốc cây chừng sáu người vội vã bò ra chạy tán loạn lên hướng Cầu trên, tôi kéo Vân chạy theo. Những đợt "càn” trước ít sợ, về sau càng ác liệt hơn, xóm thôn tiêu điều hơn, nhà cháy, người chết nhiều hơn! Bọn chúng tôi không biết mình phải dừng lại ở nơi nào? Phía sau là máy bay, xe tăng và súng nổ, phía trước kẻ gồng người gánh, trâu bò heo qué - cứ thế mà chạy!

Đến tối xẩm, hai đứa đói lả không đi nổi, ngồi bệt bên rìa đường. Vân thều thào:

- Hà em ơi! Đi không nổi nữa, Vân đói, mệt quá!



Tôi không nói gì, thất thểu qua đường đẩy cửa một ngôi nhà gần đó, cửa mở toan – vắng tanh không một bóng người! "Con không đủ sức đi nữa rồi má ơi!” Tôi ngã phịch xuống nền đất lạnh ngắt, tai nghe "ung ung” như có con gì chui vào. "Không thể nằm ở đây được nghe Hà em, phải đi tìm mẹ tìm chị Hai, ngoài kia còn Vân nữa!” Tôi nhủ vậy và cố lê người vào sâu trong nhà tìm một cái gì đó – khát quá! Trên trang thờ giữa nhà có một nải chuối đã ngã sang đen. Không thể bắt ghế với tới được, tôi cố tựa người vào phên vách, dùng cả sức lực còn lại lay mạnh, nải chuối rơi xuống. Có được cái để ăn người bỗng nhiên khỏe ra, tôi lần mò xuống bếp, ảng nước khô rang đành phải cầm nải chuối đen thui đem ra hai đứa cùng ăn!

Ai thấy hoàn cảnh của bọn tôi đều thương và động viên:

- Mẹ không sao đâu, ở trên này bình yên hơn dưới kia! Tụi con rồi sẽ gặp mẹ với chị thôi.

Nghe họ nói chúng tôi bớt sợ, lủi thủi đi theo. Dường như trận này đánh lớn hay sao mà thấy thỉnh thoảng có những chú bộ đội đi ngược chiều. Tôi mong sao được gặp anh Sơn của tôi. Trên này làng xóm ít bị tàn phá hơn dưới kia, nhưng nhà cửa, vườn tượt cũng tiêu điều, vắng lặng. Vân quay sang người đàn bà gánh hai đứa nhỏ trong thúng:

- Dì ơi! Sông Đồng Bò còn xa không hả dì?

- Xa cháu ạ!

Bà chỉ tay về phía trước:

- Mấy người kia lên Đồng Bò đấy, nhà tui lên mé trên lánh nạn vài hôm rồi về. Sao mấy cháu đi một mình, ba mẹ đâu? Lạc à!

Vân nhớ mẹ tủi thân khóc rấm rức. Thế là chúng tôi quyết định - "Trên đường lên nhà ngoại sẽ hỏi thăm tin tức mẹ và chị Hai”. Hai đứa lại nhập bọn với nhóm người đi trước. Quả thật, nếu đừng lo chuyện đạn bom, đừng buồn vì lạc mẹ, đừng nghĩ đến nhà cửa cháy rụi thì đi như thế này cũng thích. Từ bé đến giờ bọn tôi chỉ biết loanh quanh Phú Thứ, mở mắt đã thấy cánh đồng, mương dẫn thủy, những chiếc xe ngựa lại qua trên đường cái quan mỗi ngày. Còn người quen đến độ nghe tiếng đã biết mặt. Giờ cái gì cũng lạ, cũng mới. Bụng đói? Gặp gì ăn nấy! Đôi khi một vắt cơm với dúm muối é, một cục thịt mặn đắng nhưng sao ngon lạ lùng! Cũng có lúc dăm trái ổi xanh, chùm mận non sương của vườn nhà ai bỏ trống – miệng khát? Lu nước bên chái nhà hoang, con suối róc rách uống căng bụng lại lên đường.

Chân Vân sưng đỏ tấy vì dẫm phải mảnh bom đã có vẻ trầm trọng. Hôm qua Vân sốt, mê ú ớ suốt đêm, tôi xin được một miếng giẻ thấm nước đắp lên đầu Vân (ngày xưa tôi sốt ba vẫn làm thế). Sáng nay mọi người lên đường cả, tôi đỡ Vân đứng dậy, người nóng hầm hập như cục than, chân đau lê không nổi. Tôi tha được một đoạn hai đứa ngã lăn quay. Những người đi trên đường thấy vậy đưa một vốc muối bảo hòa nước rửa vết thương và ái ngại nhìn bọn tôi:

- Cháu ơi! Ở đây không có làng xóm gì, cháu cố đưa em đi đi.

Tôi lại gắng đỡ Vân đứng lên. Hai đứa sức vóc sàn sàn nhau, bình thường Vân nhẹ hều, đừng nói là đỡ đứng lên, vác trên vai có khi còn được nữa là. Nhưng nay quả thật tôi không làm nổi. Tôi đã cố hết sức kéo Vân đứng dậy tựa vào người tôi, tôi đã muốn té nhào, tay chân như không nghe lời, cứ run run như sắp khụy xuống:

- Vân ơi, cố lên!

Tôi nói trong hơi thở, kéo tay Vân vắt ngang cổ, hai đứa tha nhau đi liu xiu. Đồng bằng lùi dần phía sau, những trảng rừng thưa cây cối lúp xúp. Đoàn người tản cư bơ phờ, mệt mỏi dù có muốn cũng chẳng ai giúp được gì chúng tôi. Sự đói khát, buồn vì nhớ nhà nhớ cha mẹ, anh chị đã làm hai đứa kiệt sức. Hơn nữa, Vân lại đau, chân sưng tấy đỏ ửng, lê từng bước nên nhóm người đi trước cứ mỗi lúc một xa dần. Chừng xế trưa, bóng nắng đã ngã ra sau lưng, bụng đói cồn cào miệng khô đắng dẻo queo, tôi dìu Vân lê đến một bụi cây ngồi nghỉ. Móc trong cạp quần vắt cơm với dúm muối é đưa sang Vân:

- Vân ăn đi, ráng ăn cho hết để có sức khỏe nghe!

Vân thều thào, mặt mày tái xanh không một giọt máu:

- Hà em ăn đi Vân chưa thấy đói…Vân mệt quá!

Cầm vắt cơm khô khốc trong tay, bụng tôi bỗng cồn cào tợn. Vắt cơm khi sáng của những người tản cư tốt bụng đã lọt thỏm trong cái dạ dày háu đói, tiêu tan nhanh trong từng bước đi. Không phải là cục cơm bé tẹo này mà đến mười cục có lẽ tôi cũng ăn cái vèo! Qủa là cái đói khi tưởng tượng nó không thể khủng khiếp, nó không làm cho người ta thấy quay quắc, tức ngực thắt lòng, hoa mắt ù tai như thế này. Tôi đói đến xây xẩm mặt mày:

- Vân cố mà ăn đi, Hà em đói sơ sơ mà, chỉ có khát nước thôi. Mà phải ăn để còn có sức đi tìm mẹ chứ!

Vân gượng ngồi dậy, cười méo xẹo:

- Thôi, Vân một nửa Hà em một nửa nghe!

Tôi nài thêm rồi hai đứa cùng bẻ vắt cơm chấm với muối é ăn ngon lành. Vắt cơm bé quá nên đến miếng cắn thứ ba chỉ còn một mẩu không lớn hơn ngón tay, tôi đâm hối tiếc: "Gía ăn từ từ nhai thật kỹ thì có phải thích hơn không!” Mẩu cơm cuối cùng tôi bỏ từng hột vào miệng nhai nhóp nhép. Chưa thấm tháp gì so với bao tử trống rỗng nhưng cũng êm êm được cái ruột. Vân vẫn còn đang cầm nắm cơm trong tay miệng nhai trệu trạo. Tôi động viên:

- Ráng ăn đi Vân, vừa đi mình vừa tìm nước uống, với lại phải đi cho qua đoạn này chớ lỡ ban đêm mà vắng teo thì eo ơi!

Ăn xong và được nghỉ ngơi nên tôi cũng thấy khỏe ra. Tôi đỡ Vân đứng dậy, hai đứa lại khập khiễng lên đường. Qua hết trảng rừng thưa bọn tôi gặp một con sông đang mùa cạn. Suốt từ sáng đến giờ không một giọt nước, cổ họng đắng nghét, khô queo nên cả hai men theo lối bò đi lần xuống bến nước. Lũy tre trên bờ bạc phết bị nước bào mòn trơ gốc như những ông già tụm nhau ngồi chuyện gẫu. Tàn tre xác xơ ngã nghiêng xuống dòng sông còn đôi chổ trong xanh nước. Lá tre nổi lều bều, tôi dò chân xuống lấy tay khua khua nước vục uống vài ngụm đỡ khát, rồi lấy thế thật vững để Vân vịn vào người cúi xuống uống. Làn nước mát như chạy khắp người làm chúng tôi tỉnh hẳn ra, hơn nữa gió mát từ dưới sông phả lên, bóng tre che rợp một khoảng sông. Tôi đỡ Vân ngồi xuống vồng cát trên mép nước:

- Giá mà được ngủ một giấc Vân nhỉ!

Nói đến ngủ hai mắt tôi như muốn ríu lại, lơ mơ. Tôi ngáp dài, Vân nói như reo:

- Hình như đây là sông Đồng Bò hay sao ấy!

Tôi cố nhướng đôi mắt nặng trĩu nhìn sang bên kia bờ như để đoán nó là sông gì. Bờ bên xa tít tắp, tôi nhổm dậy:

- Dám sông Đồng Bò lắm! Từ hồi đi đến giờ có gặp sông nào to như vậy đâu!

Điểm đến đã gần kề nên hai đứa vui hẳn. Tôi vọt lên bờ nói vọng lại:

- Vân cứ ngồi đó nghỉ để mình coi thử có ai ở quanh đây không!

Mặt trời đã ngã dần về phía những ngọn núi. Cảnh vật đìu hiu, vắng lặng không một bóng người, đâu đó tiếng chim "bắt cô trói cột” cứ chập chờn khi gần khi xa. Tôi chẳng biết đi hướng nào – rẽ trái men theo bờ sông hay ngược sang phải, băng qua sông cũng chẳng được. Mà đây có phải sông Đồng Bò không? Nếu sông Đồng Bò thì nhà ngoại Vân ở đâu? Những câu hỏi cứ ẩn hiện trong đầu khiến tôi mệt lữ. Tôi vịn nhành cây nhoài người xuống sông:

- Nhà ngoại ở đâu Vân biết không?

- Về ngoại với mẹ đi đường cái quan, giờ đi thế này Vân đâu có biết!

Tôi nghĩ, nếu gặp nhà nào đó quanh đây hỏi thăm thì hay biết mấy, nhưng chẳng thấy bóng dáng một ai, không làng xóm nhà cửa. Mặt trời cứ thấp dần xuống dãy núi xa xa, bầu trời ửng đỏ ráng chiều. Chẳng biết giờ này mẹ tôi đang ở đâu? Chị Hai, anh Hà ở đâu? Mẹ Vân đang ở đâu? Mọi người có bị làm sao không? Nghĩ đến cảnh nhà cửa tan hoang, cháy rụi, gia đình tứ tán đôi mắt bổng đỏ kè. Tôi lầm lũi men theo cành cây trườn xuống sông. Nhìn Vân ngồi khóc tỉ tê, cổ họng tôi nấc nấc mấy tiếng – có lẽ nếu không nén lại tôi cũng đã khóc theo Vân. Mà hai đứa ngồi khóc ở đây lại chẳng được việc gì. Tôi nói giọng khàn đặc:

- Rửa mặt cho khỏe rồi đi!

Vân uể oải đứng lên. Cái chân sưng húp hôm qua không còn căng tròn nữa, có vẻ như đã bớt, tôi đỡ Vân leo lên bờ dốc. Nắng của ngày đã dịu lại, gió trên sông thổi lồng lộng, trời se se. Vân nhìn tôi:

- Trời sắp tối rồi lỡ mình không gặp ai, không gặp nhà cửa…

Tôi nổi gai ốc nhưng cố trấn tỉnh:

- Không sao đâu, sẽ gặp mà!

- Ước gì bi giờ được ăn cơm Hà em nhỉ!

Nhắc đến ăn bụng tôi bỗng cồn cào. Từ sáng đến giờ vắt cơm lọt thỏm trong bụng, giờ nó chỉ chứa nước và nước, đi cứ óc a óc ách. Hai đứa đi về mé phải. Mé phải đường mòn lớn hơn chắc có nhiều người đi, hai đứa nghĩ thế nên ra sức đi nhanh. Vừa đi tôi vừa căng mắt nhìn chung quanh xem có thứ gì có thể ăn được không. Cây cối xác xơ, đất bạc màu trắng phết. Đây đó những cụm sim, tím sẫm trong rừng chiều. Mệt quá! Nhưng cả hai đều chẳng dám dừng lại nghỉ. Chợt phía trước có một vật làm tôi chú ý - tôi đi nhanh:

- Vân ơi, cứt bò!

Vân tròn mắt. Vật đen đen mằm cạnh bụi sim. Mùi nồng nồng, hăng hăng của phân bò phả vào mặt, tôi đưa ngón tay sờ lên ấn nhẹ xuống, bề mặt phân se se, ngón tay chìm trong cục phân to bằng cái bát. Tôi mừng rỡ reo lên:

- Mới…ỉa chừng trưa nay!

Nó hốt hoảng đâm ngơ ngác:

- Hà em định…làm gì với nó?

- Làm gì là làm gì? Cứt bò có nghĩa là gần đây có nhà!

Bọn tôi như được tiếp thêm sức, đi nhanh hơn về phía trước. Trên trời, chim từng đàn bay về tổ. Ánh nắng nhợt nhạt dần, màn tối cứ lan nhanh. Bắt đầu từ những triền sâu, bóng nắng bò lên cao, con đường mòn cũng từng mảng, từng mảng nắng chờn vờn, lung lay rồi biến mất theo bước đi xiêu vẹo, khập khiễng của bọn tôi.

Trời tối! - Vạt nắng cuối cùng rồi cũng yếu ớt tan biến. Đường mòn nhập nhòa tối, hai đứa không dám quay nhìn lui – dường như có bước chân nào đó đi sau lưng, cứ dậm thình thịch, thình thịch! Một tiếng "rẹt” trong lùm cây, một tiếng "huýt” từ đâu đó làm cả hai giật thót người. Chưa bao giờ nỗi sợ hãi lại đến với chúng tôi khủng khiếp như thế! Chẳng biết từ lúc nào bàn tay nhỏ nhắn của Vân nằm gọn trong tay tôi như một sự chở che. Mà che chở cái nỗi gì khi một tiếng vỗ cánh của con chim nào đó "phạch phạch” là tôi lại run bắn lên, tim như muốn nhảy tót ra khỏi lồng ngực!

Vừa đói vừa khát, cộng với nỗi sợ hãi làm bọn tôi hoàn toàn suy sụp. Thật sự lúc này tôi và cả Vân đều không thể lê được bước chân, nhưng ngồi lại? – có nghĩa là chấp nhận cùng thế giới đầy ma quái bao quanh - những hình người kỳ dị lắc lư, vẫy tay cười "khặc khặc”. Bóng trăng non như lưỡi liềm trôi lơ lững trên cao, tỏa ánh sáng lờ mờ đủ để thấy con đường mòn và những bóng đen quái gỡ. Tôi mở căng mắt nhưng lại không dám nhìn vào một vật nào. Cả hai đứa mệt phờ nhưng có lẽ chẳng ai dám thở. Thèm ngồi xuống quá! Đôi chân như không còn là của tôi, nó đi theo quán tính. Cho vàng bọn tôi cũng chẳng dám nhìn lui chứ đừng nói là ngồi lại. Thỉnh thoảng Vân giật thót người, run bần bật, tôi lại bóp chặt tay Vân như để trấn an. Hai đứa, cứ thế truyền cho nhau thêm vững dạ. Đang đi Vân khựng lại, tôi thều thào:

- Gì thế Vân?

Vân im lặng vễnh tai về phía trước – trong không gian tỉnh mịch, lòa nhòa của bóng đêm có tiếng gì "phò phò” như ai đó đang thổi lò rèn. Tôi muốn biết tiếng gì lắm! Và nó ở đâu? Nhưng lại không dám nhìn. Tôi đoán:

- Giống như…tiếng…người thở!

Chưa nói dứt câu, Vân ôm chầm lấy tôi run như cầy sấy:

- Trời ơi, ma!

Tôi nổi da gà lạnh toát cả sống lưng, hai đứa khụy xuống. Không đường thoát rồi, trước sau, phải trái đầy những bóng tối ma quái: - "Chạy đằng nào?” Hai đứa ôm lấy nhau khóc thét lên: - "Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Vang toáng rừng đồi. Tiếng "phò phò” lúc thưa lúc nhặt, có lúc thật khẻ như tiếng thở dài, chú ý lắm mới nghe được. Sau trận khóc khàn cả cổ và rồi bọn tôi vẫn y nguyên, tôi bắt đầu bình tỉnh trở lại, Vân lạnh ngắt tay chân, người còn đang run. Tôi nói:

- Hình như…nó rên!

Vân úp mặt vô lưng tôi van xin:

- Lạy Hà em… Đừng có nói!

Tôi nghĩ: - "Nếu ma sao nó không "òa” lại chỗ bọn tôi, nếu ma sao nó không "hớp hồn”, "rút ruột” hai đứa. Tuy rất sợ nhưng tôi cũng tò mò, đưa tay quờ quạng trên lối mòn tìm hòn sỏi, cầm cục sỏi trên tay tôi bậm miệng ném vào nơi phát ra tiếng "phò phò”. Hòn sỏi vụt khỏi tay: - "Bịch” nơi đó vọng lại: - "Ụm…bò!” Tôi lay lay Vân:

- Nghe gì không? Hình như…con bò!

- Ma… bò!

- Ma người le lưỡi mới sợ, chứ ma bò…

Buột miệng nói vậy nhưng tôi cũng sợ. Dù ma gì cũng là ma! "Ụm…bo…o…bò!” Tiếng kêu "ụm bò” đứt quãng, như linh cảm điều gì tôi đứng lên:

- Tiếng kêu đó… không phải nhát mình đâu! Giống như tiếng kêu cứu ấy.

Vân níu áo tôi, van lơn:

- Sợ lắm Hà em ơi! Đừng tới đó mà!

- Mình không tới đó, nhưng để xem thử…

Vân nắm vạt áo phía sau của tôi gì lại, tôi cố đi tới. Đương nhiên Vân không thể đứng đó một mình. Thế là cả hai dùng dằn từng bước một nhích về đằng trước. Tiếng "phò phò” rõ dần, được phát ra từ một đống đen thui. Tôi cầm thật chặt tay Vân vừa để Vân bớt sợ và ngồi thụp xuống, nhưng nó run bắn lên ngã nhào vào người tôi. Tôi đẩy nhẹ Vân sang một bên, đưa tay mò tìm hòn đá, ném vào cái đống đen thui, to lù lù phía trước: - "Bịch!” Trong bóng tối dường như nó "nhúc nhích”. Sự sợ hãi của Vân đến cực độ, Vân hét lên một tiếng, buông vạt áo của tôi chạy thục mạng về phía sau, tôi vụt theo chụp lại. Nỗi hoảng sợ đã khiến Vân chẳng còn nghĩ được gì. Trong hoàn cảnh này cả hai sẽ chết mất nếu mỗi đứa riêng lẻ một mình trơ trọi trong bóng đêm "hai đứa cần có nhau”! Tôi nghĩ thế nên cố rượt theo. Chạy được vài bước Vân ngã sóng soài trên đường. Tôi vừa dỗ dành vừa ra vẻ trách móc:

- Lần sau đừng có…bỏ chạy nữa nghe! Bọn mình phải sống chết có nhau…

Vân mặt mày dáo dác, lồm cồm ngồi dậy khóc thút thít:

- Mình sợ quá!

Tôi đưa tay về cái đống đen ngòm:

- Chắc …nó là con bò, Con bò sắp chết!

Để đáp lại lời nói của tôi, từ phía bóng đen ấy vang lại tiếng”bò” rõ to, đùng đục như thể đã cố hết sức tàn, như thể cầu xin được giúp đỡ. Thanh âm phát ra sao tha thiết! Không còn nghi ngờ gì, tôi cầm tay Vân:

- Đúng là con bò bị gì rồi!

Hai đứa dò từng bước đầy cảnh giác, mom mem đến gần bóng đen. Dường như biết có người sắp đến "bóng đen” cựa quậy đứng lên: - "Bò...ò…ò!” tôi buột miệng:

- Bò thiệt rồi!

Con bò cố đứng lên bổng khụy xuống. Bọn tôi tiến đến, nó mừng rỡ rên "phò phò”, tôi đưa tay sờ nhẹ, nó rung rung làn da, quay đầu về phía tôi. Nó lại cố đứng lên – lại ngã! Tôi cúi xuống đưa tay mò mò trong bóng đêm, bàn tay chạm vào vật gì lạnh ngắt đầy những răng sắt, tôi la lớn:

- Con bò bị dính bẫy!

Vân dè dặt nép sau lưng tôi, đưa bàn tay về phía trước sờ vào cái bẫy. Bỗng hoạt bát hẳn lên:

- Nhà ngoại cũng có cái này, cậu mình hay dùng nó để bẫy chồn với lại heo rừng…

Tôi vuốt vuốt cái chân bị kẹp của nó, con bò rên khe khẻ đưa cái mũi ươn ướt, êm êm cọ vào tay. Tôi loay hoay mở vòng kẹp của chiếc bẫy, không biết đường nào mà lần. Vòng sắt đầy răng nhọn "ôm” cứng chân trước con bò. Tôi quay sang Vân:

- Vân có biết cách mở không?

- Kéo mạnh hai bên ra – mình thấy cậy vẫn làm thế!

Tôi một bên, Vân một bên hai đứa cố sức lôi thật mạnh, chẳng ăn thua gì! Con bò có vẻ rất đau, chân của nó giật giật như bị kinh phong. Vân nói:

- Hay Hà em mở sợi dây cũng được, tụi mình không kéo nổi cái bẫy đâu!

Sợi dây được mở ra, chiếc bẫy vẫn còn kẹp phần dưới chân bò. Nó gượng đứng lên như người đau mới khỏe, đi xiêu vẹo quanh bọn tôi. Có lẽ trời cũng đã khuya lắm! Sương đêm ướt đẩm lưng hai đứa. Và cũng thật lạ, từ khi có con bò bọn tôi trở nên vững tâm hơn trong bóng đêm. Con bò được giải thoát, dẫu rằng ngàm sắt của chiếc bẫy vẫn ôm chặt ống chân, nhưng nó đi được! Đi khập khiễng theo lối mòn, bọn tôi cũng líu quíu theo bên nó! Bóng đêm bớt dần vẻ rùng rợn.

Đâu đó có tiếng gà gáy, Vân mừng rỡ reo lên:

- Có nhà rồi! Có người rồi…!

Bầu trời đêm đầy sao, không gian mênh mông vắng lặng nổi bật lên tiếng gà gáy. Vừa đi tôi vừa đưa tay gải gải trên lưng bò:

- Gía mày đừng đau, chở tụi tao thì hay biết mấy!

Như hiểu được, con bò đi chậm lại quay đầu sang bên tụi tôi: - "Ụm…bo…bò!” Tôi xoa lên má nó:

- Đùa đấy! Chân mày đau thế kia cỡi làm sao được! Mà cũng gần gặp được xóm làng rồi!

Tiếng gà gáy nghe đâu gần lắm thế mà cả ba đi mỏi nhừ cả chân, ướt đẫm cả áo, trông mờ cả mắt mà vẫn hun hút bóng đêm. Vân lo lắng:

- Con bò dẫn mình đi lạc rồi!

- Mẹ hay nói "lạc ngõ nắm đuôi trâu”…

- Nhưng đây là con…bò!

- Bò…cũng như… trâu!

Nền trời bắt đầu rựng hồng đằng đông. Những bóng cây, lùm bụi dần dần rõ nét. Hai đứa mệt muốn đứt hơi, định ngồi nghỉ một lát thì từ xa có tiếng người nói lao xao… . Chừng năm người đang đi trên đường mòn về hướng chúng tôi. Thấy hai đứa họ reo lên:

- Nó đây rồi! Nó đây rồi!

Họ đi đến với gậy gộc trong tay nhưng không có vẻ gì dữ tợn, nguy hiểm cả. Thậm chí, một người trạc chừng năm mươi tuổi cười ha hả:

- Tôi biết thế nào cũng gặp "nó” mà!

Té ra những người này đi tìm bò. Biết bọn tôi bị lạc nên khuyên hai đứa tạm về nhà họ ở rồi lần hồi dò tìm gia đình. Người trạc năm mươi tuổi là bác Hiền chủ con bò nói: - "Tụi con nhỏ thế này mà đi tìm mẹ sao được. May mà không chết đói, chết khát dọc đường . Về nhà bác ở rồi bác tìm dùm cho!”. Những ngày đói khát vừa qua, những kinh hoàng trong đêm tối đã làm chúng tôi không còn lựa chọn nào khác. Vậy là bọn tôi cùng về nhà bác Hiền.

Được nghỉ ngơi và ăn uống đầy đủ nên hai đứa phục hồi nhanh chóng. Bọn trẻ con chúng tôi chẳng bao giờ ngồi yên được, nhưng lại không biết làm gì, nhất là đứa nào cũng nhớ nhà, nhớ mẹ. Vân thường ra sau chái hè ngồi khóc, tôi cũng chẳng hơn gì. Cứ nhớ mẹ, nhớ anh nhớ chị là hai mắt lại nóng ran. Cả ngày bác Hiền gái đi dò tìm, hỏi thăm những người tản cư. Ngày lại ngày ngồi chờ đợi, hy vong… Buồn quá tôi xin bác Hiền được đi giữ bò, bác gái an ủi, bác trai đắn đo mãi cuối cùng đồng ý để tôi giữ đàn bò. Bác nói:

- Con nói vậy cũng được, có việc làm cho khuây khỏa…

Đàn bò của bác gần hai chục con, có cả con Ve nữa. Ve là con bò sập bẫy được bọn tôi cứu. Chân nó giờ đã lành, tuy còn đi cà thọt! Tảng sáng hôm sau tôi lùa đàn bò ra những bãi bồi giữa sông, Vân đòi theo tôi cùng giữ bò. Bác Hiền đành gói thêm cơm cho hai đứa ăn trưa.

Vào mùa khô sông không nhiều nước. Những bãi bồi xanh rì cỏ lau và lùm bùm cây dại. Đàn bò quen đường cứ đi đủng đa đủng đỉnh. Hai đứa không dám theo đường của chúng vì phải lội qua những dòng nước sâu xanh thẫm, đành chạy lúp xúp tìm lối cạn để ra bãi bồi giữa sông. Giữ bò ở vùng trung du thật sướng, chẳng phải sợ ăn lúa, phá rau củ. Thả ra gò đồi vào mùa mưa, hoặc bãi bồi giữa sông khi cạn nước. Rảnh ran không gì bằng đi giữ bò, nhưng nếu giữ bò mà chỉ có một mình thì buồn vô cùng. May mà có nhỏ Vân theo chứ không chắc buồn đến khóc mất! Cái chòi trên bãi bác Hiền che để tránh nắng mưa lâu ngày sụp xệ giống như đống rác. Bọn tôi bẻ cành, nhổ cây dựng lại, Vân tìm những bụi hoa dại đem trồng trước lều. Nó ngắt những bông hoa mắc cở màu hồng nhạt cắm trên tóc, tôi buột miệng:

- Giống cô dâu quá!

Nhỏ Vân ngúng nguẫy:

- Thèm!

- À! Mình chơi trò cô dâu chú rể đi…

- Vô duyên!

Tôi ngơ ngác:

- Hồi ở nhà bọn mình vẫn thường chơi, sao giờ "chảnh” thế?

Vân lườm lườm:

- Hồi đó khác, giờ khác!

- ???

- Hồi đó có bọn thằng Ngọng, thằng Khôi làm hai họ, khách khứa, giờ chỉ có "tui” với "ông” thì làm cái gì? Rõ vô duyên!

Quả thật tôi chẳng hiểu, đúng là con gái! Hai đứa đứng ngắm căn lều vừa được sửa xong rồi cùng rủ nhau nhảy "ùm” xuống tắm sông.

Cuộc sống đều đặng quá cũng đâm chán, chẳng có gì để chơi. Ban ngày thì thế, còn về đêm lại nhớ nhà. Mẹ tôi không biết giờ ra sao. Chắc mẹ khóc hết nước mắt khi chạy về nhà tìm đứa con trong đống đổ nát, tan hoang. Ngày còn ở nhà tôi thấy có bà mẹ, giống như mẹ tôi – hớt hãi, cuống cuồng chạy tìm con. Tay mẹ bới tung những tro than, những đất, những gạch đổ tìm con mình. Rồi người mẹ ấy đã hóa điên, đi lang thang ngoài đường bất kể ngày đêm. "Má ơi! Giờ má ở đâu?” Và tôi lịm dần vào giấc ngủ.

Sáng nào cũng vậy, bác Hiền gái dậy thật sớm mấu cơm xong đùm cho hai đứa tôi một bọc cơm được cột chặt trong lá chuối non. Thức ăn là ít muối é, đôi khi dăm lát thịt kho mặn hoặc vài con cá, nhúm tép rang. Sáng nay được thêm cái đùi gà (con gà đêm qua bị chồn bắt hụt). Vân cho tất cả vào trong tấm vải, cột chặt mang trên vai. Tôi vào dưới phản moi ra mấy củ mì, lấy lạt xâu lại đem theo để nướng ăn. Con Ve đã thật sự khỏe mạnh, nó luôn tỏ ra thân thiện với hai đứa tôi. Tôi định nhường con Ve cho nhỏVân cỡi, nhưng Vân chưa quen cỡi bò. Thế là hai đứa cùng cỡi con Ve. Nó là con bò khỏe nhất đàn nên bọn tôi chẳng nhằm nhè gì khi ngồi trên lưng nó. Con Ve có vẻ hài lòng lắm, nó đi phăng phăng.

Một đống lửa được nhen lên phía sau lều gần mép nước. Vân đi lượm cây khô bỏ thêm vào, tôi gác mấy củ mì lên đống lửa rồi xuống vũng nước cạn, nhỏ chừng bằng cái sân mò ốc. Tôm tép búng "lách chách”, tôi mò được vài con "chụp chụp” to bằng nửa bàn tay quăng lên bờ. Nhỏ Vân lấy cái nón cời lội ra bắt tôm. Hai đứa bắt cũng được kha khá tôm với "chụp chụp”. Tôi bẻ cây que xiên vào đầu tôm rồi hơ lên ngọn lửa, bọn chúng búng "rật rật”, tàn lửa bay tứ tán trông thật vui mắt, hai đứa chia nhau ăn ngon lành. Thịt tôm nướng nhẹ trên lửa thơm ngọt, mấy chú "chụp chụp” gặp lửa hả miệng toang hoát, mùi cháy của vỏ xèo xèo, nồng nồng Vân hít hà:

- Thơm quá!

- Ăn thêm mấy củ mì là no nức niềng…

Bọn tôi đang ngồi ăn thì bên bờ sông có hai người đang lội ra. Người đi đầu tôi nhận ra ngay là bác Hiền trai, còn người thứ hai chưa nhận được là ai. Chợt Vân bỏ khúc mì đang cầm trên tay reo lên:

- Cậu! Cậu! Hà em ơi...!

Chưa dứt câu nó chạy ào, nước văng tung tóe, tôi rượt theo. Hai đứa chạy như bay bất kể đất trời. Vân lao vào cậu, tôi cũng lao theo, cậu ôm hai đứa nhấc bổng lên cười ha hả. Lẽ ra gặp người thân trong hoàn cảnh này bọn tôi cũng cười như cậu, nhưng hai đứa lại khóc ngon lành, khóc như chưa hề được khóc. Những giọt nước mắt tủi thân, buồn nhớ, u uất bấy lâu giờ được dịp tuôn ra. Cậu hôn vào má hai đứa, cậu cười nhưng hai mắt đỏ hoe. Bác Hiền đứng yên, đưa tay dụi dụi mắt, nói:

- Thôi, ba cậu cháu về nhà trước đi, bác ra cho bò về sau!

Hai đứa chạy tung tăng phía trước, men theo dòng nước trong xanh, băng ngang bãi bồi như đôi chim non đang chập chờn bay. Tìm được cậu cũng có nghĩa là bọn tôi lại chia tay nơi này, nơi thời gian chưa đủ dài để chứa nhiều kỷ niệm, nhưng lại in đậm trong hai đứa tôi những con người tốt bụng như gia đình bác Hiền, như con Ve mà tôi xem như người bạn.

Sự việc mà bọn tôi mong chờ nhất là được nghe cậu Hòa (cậu của Vân) kể về những gì xãy ra với mẹ và chị tôi. Cậu kéo tôi và Vân lại gần:

- Hôm xãy ra chiến sự ở Hòa Bình, mọi người chạy hoảng loạn, chị Hai theo một nhóm chạy lên hướng Củng Sơn, dì Liên định chạy về tìm Vân nhưng không được đành chạy sang ngoại. Sau đó dì với cậu Hòa về Phú Thứ tìm Vân. Làng xóm cháy tan hoang, dì cũng gặp mẹ tôi, cả hai bà mẹ bươi tìm trong đống đổ nát thân xác con mình. Suốt mấy ngày liền hai bà mẹ như điên như dại, khóc hết nước mắt. Sau gặp bà Ký xóm chợ nói thấy hai đứa dắt nhau chạy tìm mẹ trong đạn bom, dưới trời mưa tầm tã không biết sống chết ra sao! Cùng lúc này, mẹ được tin anh Hà. Thế là hai bà mẹ bàn với nhau: "dì Liên với cậu Hòa đi lên hướng trên tìm bọn tôi, còn mẹ xuống Thị xã tìm anh Hà”. Vân hỏi:

- Cậu ơi! Mẹ con đâu?

- Rồi sẽ gặp mẹ con ạ!

Cậu Hòa quay sang tôi:

- À! Hơn nữa tháng trước cậu có gặp anh Sơn của con…

Tôi rú lên mừng rỡ:

- Anh Sơn... anh Sơn...! Trời ơi, cậu gặp anh Sơn con ở đâu?

- Cậu có gặp…nhưng…

Như linh cảm có điều gì đó, tôi hỏi dồn dập:

- Nhưng…nhưng sao? Cậu nói đi!

- Đánh nhau mấy ngày đêm, sau địch tăng cường quân, Cách mạng rút lui. Có một anh Bộ đội bị thương ở bụng được bà con đem về cứu chữa, nhưng vết thương nặng lắm – toác cả bụng, ruột cứ phèo ra, bà con lấy vải mùng rịt chặt lại. Bọn địch săn lùng dữ quá, mà ở đây lại chẳng có thuốc men gì, cuối cùng theo nguyện vọng của anh Bộ đội là đưa anh qua sông để tìm về trạm xá đơn vị. Hôm đó cậu đi ngang qua, biết chuyện vào thăm anh Bộ đội. Anh ngồi trên giường mặt mày xanh méc, chắc là mất nhiều máu lắm, nhìn thấy ngờ ngợ, quen quen. Hỏi ra mới biết là chú Sơn, gặp đôi lần ở Phú Thú. Cậu tình nguyện đưa chú Sơn về trạm xá của đơn vị. Dưới đất, từng tốp lính đang lùng sục, trên trời bọn chuồn chuồn (trực thăng) bay "phạch phạch”. Khúc sông này sâu, cậu tìm đoạn hẹp và kín lấy ghe chở chú qua sông. Qua được già nữa sông, chiếc "chuồn chuồn” bỗng đâu sà xuống: "cảo…xèo…cảo…xèo”. Bọn chúng phóng rốc két, cả hai nhảy "ùm” xuống nước. Cậu bị thương ở chân tê buốt cả người, nhưng cố ngụp lặn vô được bờ, nhìn lại chẳng thấy chú Sơn đâu. Chiếc ghe dập dềnh trôi xuôi dòng. Con "chuồn chuồn” còn chưa muốn đi, nó quay lại: "cảo…xèo”! Chiếc ghe chìm luôn xuống sông. Vậy là chú Sơn đã hy sinh! Tối đến và những ngày sau bà con ra mò tìm xác nhưng không thấy – tội nghiệp!

Tôi thẩn thờ. "Em chờ gặp anh hoài mà giờ lại nghe được tin này, anh chết thật rồi sao? Nhanh thế anh Sơn! Không! Anh không thể chết được! Hồi trước bọn chúng bắn thẳng vào người anh ở ga Gò Mầm mà chưa nhằm nhè gì. Quyết là anh không thể chết được, tôi tin thế!

Ăn trưa xong cậu Hòa định xin phép bác Hiền được đưa hai đứa về nhà. Vân tíu tít như con chim non. Riêng tôi, dù biết được tin mẹ, chị Hai, anh Hà không sao, niềm vui cũng đã rất lớn nhưng lòng tôi lại đau đớn, ngực như có gì chặn lại, khó thở. Tôi hỏi cậu Hòa:

- Cậu ơi! Cậu có biết đơn vị của anh con ở đâu không?

- Cậu không biết, ở đâu quãng… Nhưng…!

- Con muốn đi tìm anh con!

Cậu Hòa an ủi:

- Bị thương như vậy… Nếu không trúng đạn, anh con cũng khó bơi được. Ruột thế kia…!

Cậu Hòa buột miệng lỡ lời chưa kịp dừng, tôi òa khóc:
- Anh con không chết! Anh con về đơn vị rồi! Cậu cho con đi tìm anh con…

Trên đường lác đác vài người tản cư quang gánh, bồng bế trở về lại nhà. Nghe chuyện họ góp lời:

- Tội nghiệp cậu nhỏ. Thất lạc cha mẹ, anh lại thế…

- À! Cách đây nửa ngày đường có trạm xá, cậu nhỏ thử tới đó hỏi thăm xem, biết đâu Trời Phật phò hộ được gặp anh…

Bác Hiền ôm tôi vào lòng:

- Để bác hỏi thăm đã, một mình con không đi được đâu!

Cậu Hòa cầm tay tôi ôn tồn:

- Hai đứa về nhà cậu, rồi để ngớt ngớt bom đạn cậu dẫn đi tìm anh.

Tôi nhớ anh quá! Tôi phải đi tìm để tin là anh không chết dưới sông. Mà anh không thể chết dưới sông như những người chết trôi trên mương dẫn thủy dạo nào được. Anh bơi cừ lắm kia mà! Nhằm nhè gì con sông này, sá gì một đoạn sông nhép mà anh không qua được. Chỉ một "cú” lặn thôi anh nhỉ! Còn bụng bị thương, ruột lòi ra chắc anh đau lắm, rát lắm! Nhức nữa phải không anh? Cứ suy nghĩ miên man như vậy tôi lại càng quyết tâm đi tìm anh. Biết không can ngăn được, bác Hiền đành nói:

- Thôi! Nếu con đã nói như vậy thì ở đây với bác, mai hai bác cháu ta cùng đi.
Bác Hiền xoa đầu tôi:

- Con thật ngoan! Rất dũng khí, có bác Hiền đi là cậu yên tâm.

Vân đến bên cầm tay tôi, đôi mắt đỏ hoe:

- Vân thương anh Sơn nhưng lại không muốn xa Hà em. Hay là…tụi mình cùng đi!

Bác Hiền đưa tay béo vào đôi má bầu bầu của Vân:

- Không sao đâu con. Hà em đi vài ngày, gặp anh rồi về với con mà!

- Mình cũng nhớ Vân!

Chiều hôm đó tôi chia tay Vân.



Phạm Tú Uyên
(Còn tiếp)

Hình ảnh
KÝ ỨC TUỔI THƠ (Tiếp theo)



TÌM CHA


Thế là Vân trở về với gia đình, cuộc sum họp thật trọn vẹn. Còn tôi, dẫu rằng biết được tin tức từng người trong nhà, nhưng nỗi lo lắng, sợ hãi cứ dồn nén trong lồng ngực của đứa trẻ lên tám như tôi. Không biết mẹ tìm được anh Hà chưa? Nơi phố phường người đông như nêm cối, lạc lõng biết đâu mà lần. Còn chị Hai một thân trơ trọi giữa rừng núi mênh mông, giữa xứ lạ người xa! Rồi anh Sơn nữa, với vết thương ấy liệu anh có vượt qua được đạn bom, qua được dòng sông đang cuộn chảy? Anh có kịp về trạm xá, có gặp được ai giúp đỡ hay lủi thủi một mình với vết thương xì ruột bên hông, hay anh đã…? Tôi không dám nghĩ tiếp. Từng suy nghĩ vỡ vụn, mông lung, Những lo lắng cứ nhảy múa, cứ chập chờn khiến tôi không sao ngủ được.


Gà gáy bận hai, phía chân trời ửng hồng. Bác Hiền gái đã chuẩn bị xong cơm nước cho hai bác cháu mang theo đi đường ăn. Tôi mang bị cơm trên vai bước nhanh ra cổng. Chẳng có sự chia tay nào vui cả, hôm qua là Vân, sáng nay chia tay với bác gái, với ngôi nhà. Nơi đã cưu mang tôi trong những ngày lưu lạc. Tôi từ giả con Ve, từ giả dòng sông, hai bác cháu vượt qua bờ bên của con sông rộng đi về phía trước – nơi đó có anh Sơn của tôi.


Trời vừa đứng bóng, tôi và bác Hiền tìm được trạm xá. Trạm là ngôi nhà tranh chỉ có mái lợp, còn bốn bên trống hươ. Những chiếc võng giăng qua mấy hàng cột, giăng tràn ra các gốc cây bên ngoài. Tôi bồi hồi, háo hức được gặp anh, sẽ kể anh nghe về chuyện con bò Ve sút làm hai đứa chết khiếp,chuyện mẹ xuống Thị xã tìm anh Hà, chuyện chị Hai chạy lên Củng Sơn, cả chuyện mẹ con bác Trong cháy đen thui khi đang cõng mẹ chạy múp bom! Tôi rón rén đến từng chiếc võng. Ngạc nhiên đến bất ngờ anh Sơn nhá! Bàn tay nhỏ tí, đen thui run run hé từng mép võng. Một chiếc võng, hai chiếc… Mặt tôi nóng ran sau mỗi lần luồn qua từng cánh võng. Những chú Bộ đội, những người dân bị thương mặt mày xanh xám đang nằm thim thiếp ngủ. Chiếc võng cuối cùng cũng không có anh! Tôi như khụy hẳn xuống. Tôi mong gặp anh biết bao, anh Sơn ơi! Anh không có ở đây vậy là anh đã nằm lại dưới dòng sông rồi sao? Cô trưởng trạm bảo: "Mé dưới có một trạm”, thế là hai bác cháu lại đi… Cứ thế! Đến ngày thứ ba – những tia hy vọng cứ leo lét dần trong tôi. Bác Hiền khuyên nên quay về. Tôi chưa biết phải làm sao thì từ xa một tốp người đang đi lên, mấy chú Bộ đội và hai người lớn trạc bằng bác Hiền. Năm người cả thảy. Tôi chăm chú nhìn bỗng nhảy cẫng sung sướng:


- Anh Thiệu! Anh Thiệu…!


Chú Bộ đội đi giữa chậm lại nhìn tôi nhíu mày, chợt khuôn mặt anh dãn ra:


- Ôi, Hà em! Sao lại ở đây, thế cả nhà đâu?


Tôi vừa lon ton chạy theo vừa nói:


- Em đi tìm anh Sơn!


Bác Hiền đi theo kể vắng tắt những gì xảy ra với tôi cho anh Thiệu nghe. Bác nói:


- Hiện cháu chỉ có một mình, mà tôi chẳng biết làm sao!


Anh Thiệu xoa đầu tôi:


- Anh ở cùng chỗ với ba em. Gia đình lên cả trên này rồi, cứ tạm về đó đã rồi tính.


Bác Hiền lấy từ trong cạp quần mấy tờ giấy bạc được xếp phẳng phiu dúi vào tay tôi, bác nói:


- Con cất đi, thích ăn gì thì mua.Gặp được chú Thiệu ở đây bác mừng lắm! Giờ thì chúc hai anh em đi mạnh giỏi. Bác về.


Tôi đứng lặng nhìn bác không nói được một câu. Bàn tay cầm mấy tờ giấy tiền còn đang ấm hơi người. Tôi cố ngoẻn miệng cười chào bác nhưng cứ méo xệch.


Đoàn người tiếp tục lên đường. Anh Thiệu kể rằng: "Trước khi anh Sơn tham gia trận đánh, hai anh có gặp nhau, sau đơn vị rút về anh được tin anh Sơn mất tích...”. Tôi kể tiếp chuyện anh bị thương như thế nào, người dân đùm bọc ra sao, rồi vết thương trầm trọng, rồi bọn lính truy lùng ráo riết, rồi cậu Hòa chở qua sông bị máy bay bắn chìm ghe giữa dòng… Anh hứa sẽ tìm anh Sơn cho tôi.


Trong đoàn còn có một chú Bộ đội cở tuổi ba Vân. Tôi thấy quen quen nhưng chú ấy có vẻ nghiêm nên không dám hỏi. Anh Thiệu bảo đó là chú Nam, cán bộ đại đội, đã từng nhiều lần về Phú Thứ.


Đi như vậy hơn hai ngày, chúng tôi đến một khu rừng thưa, anh Thiệu nói với tôi gia đình anh đang ở đây, và mọi người dừng lại đây năm hôm. Tôi nhìn quanh chẳng thấy nhà cửa, làng xóm, chẳng thấy bóng dáng gì là có người cả. Thấy tôi đứng ngẩn người, anh cười:


- Không chỉ gia đình anh thôi đâu, ở đây có cả một làng đấy em ạ! Họ sống dưới này nè!


Anh đưa gót chân day day lên mặt đất. Tôi tưởng anh đùa nên định nói một câu gì đó thì bất chợt phía trước cách khoảng vài chục bước chân có hai người…từ dưới đất hiện lên! Rồi bốn chú Bộ đội đi về hướng đó và biến mất! Tôi ngạc nhiên quá sức, anh Thiệu cầm tay tôi vừa đi vừa nói:


- Dưới này là một căn hầm lớn. Có lẽ được xây từ thời pháp thuộc. Dân làng xuống sống hẳn dưới này để tránh đạn bom.


Hai anh em đến gần một miệng hầm được xây bằng xi măng, có hai thanh cây đóng thành thang leo xuống, thấy tôi đứng ngập ngừng trên miệng hầm, anh vịn thanh gỗ trèo xuống, nói:


- Em cứ xuống đi, không sao đâu!


Nghe lời anh, tôi đu người trèo xuống. Hầm được xây bằng đá, rêu bám xanh rì. Nền cũng được lát bằng đá nhưng nhiều chỗ đã long tróc, rễ cây len lỏi loằng ngoằng trên vách hầm. Nước trên trần từng giọt lóc chóc rơi xuống người lạnh ngắt. Tôi lò dò từng bước trong ánh sáng lờ nhờ của miệng hầm, của các lổ thông gió. Đường hầm chính rộng chừng bốn sải chân, dài hun hút. Người ta chặt cây rừng đóng lại như những cái sạp bán hàng ngoài chợ, nhưng lớn hơn nhiều. Cả gia đình ở trên đó. Bên trên treo một tấm vải đi mưa để ngăn nước từ trần rơi xuống. Ở đây chủ yếu là trẻ con và người già. Từ đường hầm chính, những đường phụ nhỏ hơn tỏa ra chi chít, tối om om tôi không dám vào. Anh Thiệu đến một chiếc sạp trống trơn dừng lại. Ở sạp bên cạnh có người nằm trùm mền, anh đưa tay kéo nhẹ tấm chăn, một bà lão ốm như con tép rang, da nhăn như trái ư khô, hé mắt nhìn hai người. Anh Thiệu hỏi:


- Bà ơi! Mẹ với em con ở bên này đi đâu rồi?


Bà lão gượng ngồi dậy, hắng giọng nói:


- À! Con mẹ Ty hả? Hai mẹ con nó đi từ sáng…


Anh Thiệu cám ơn bà, sang ngồi trên sạp kế bên. Kéo tôi sang, anh nói:


- Đây! Gia đình anh ở đây! Chắc thằng Ngọng theo mẹ lên rẫy đào mỳ rồi. Em cứ nằm nghỉ cho khỏe, anh đi tối sẽ ghé lại.



Tôi định ngủ một giấc để bù lại những ngày dài đi đường mệt nhọc. Nằm nhìn những giọt nước rơi xuống tấm áo mưa, chạy dài qua góc rơi "tróc tróc” xuống nền hầm xâm xấp nước. Hơi lạnh từ vách hầm toát ra, tôi kéo tấm chăn định đắp lên người thì từ trong ngách nhỏ căn hầm có người đi ra. Ánh sáng lờ mờ nhưng tôi cũng nhận ra chú Nam Bộ đội. Trong suốt hai ngày đi đường, dù tôi không dám nói chuyện nhưng chú Nam cũng không có vẻ gì "ghê ghê” như tôi nghĩ. Hơn nữa, giờ đây tôi đã gặp gia đình anh Thiệu, lại sắp gặp thằng Ngọng, tôi trở nên dạn dĩ. Tôi gật đầu chào chú:


- Con chào chú! Chú cũng có gia đình ở đây à?


Chú Bộ đội khựng lại, chợt nhận ra tôi, chú dừng lại bên mép sạp mỉm cười:


- À, cậu em! Chú chỉ ghé lại thôi, gia đình chú không có ở đây!


Thấy chú có vẻ thân thiện, tôi bạo dạn:


- Con trông chú có vẻ quen quen…!

- Con ở đâu mà trông chú quen quen?

- Dạ con ở Phú Thứ!

- À, ra thế! Chú thỉnh thoảng về đó công tác. Giờ chú phải đi đây, cậu em!


Nói rồi chú đi thẳng ra cửa hầm, tôi ngã dài xuống sạp nhưng không sao ngủ được, cứ suy nghĩ mông lung. Những hình ảnh cũ mới cứ đan xen vào nhau, nhảy múa, chập chờn - mẹ tìm được anh Hà chưa? Chị Hai đang ở đâu? Rồi náo nức khi được gặp ba, gặp anh Sơn! Anh đã khỏe để về lại đơn vị chưa nhỉ! Anh…có bị làm sao không anh? Tôi cố gạt những hình ảnh thoáng hiện lên trong đầu, tôi nghĩ về Vân, về thằng Ngọng, về những ngày tháng êm đềm đã qua. Nhớ từng trận đánh giặc giả ở Cầu trên, ở ga Gò Mầm, nhớ… Tôi ngồi bật dậy như có ai thọc vô lưng: - "Nhớ ra rồi! Nhớ ra rồi!”


Tôi nhớ "chú Bộ đội quen quen” gặp ở đâu rồi! Hồi ở Phú Thứ, đôi lần gặp chú đi cùng mấy chú xã đội du kích, có khi đi cùng chú Ngọc chủ tịch. Hồi ở ga Gò Mầm thấy chú… đi xe "ríp” với lính Cọng hòa. Tôi bỗng rùng mình: - "Việt gian? Chẳng lẽ chú ấy là Việt gian sao?” Tôi nhất định phải kể chuyện này với thằng Ngọng, với anh Thiệu. Việt gian là rất nguy hiểm, mọi người đều nói thế! Nằm suy nghĩ miên man ngủ lúc nào không hay, khi có người lay mạnh, kéo chăn tốc lên tôi mới choàng tỉnh giấc. Thằng Ngọng đứng sát mép sạp nhe hàm răng vàng khè, nhìn tôi:


- Ô…Ôi! Hà…Hà em!


Tôi mừng không kể xiết, ngồi bật dậy, nó ốm quá, xanh mướt khiến cái đầu như to thêm ra. Hai đứa dắt tay nhau ra cửa hầm. Tôi kể đủ thứ chuyện không đầu không đuôi, cứ chuyện nọ xọ chuyện kia. Còn nó quanh đi quẩn lại: "lên nương trồng mỳ với lại về hầm, mà cứ cà cà đến sốt cả ruột! Tôi đem chuyện "ông đeo gương đen” đi xe "ríp” Mỹ hồi gặp ở ga Gò Mầm kể cho nó nghe, nó gãi gãi cái đầu rối lùm xùm như tổ quạ nghĩ ngợi, đôi mắt sáng hẳn lên:


- Mình…mình……!


Tôi cáu lên:


- Mình cái con khỉ! Cậu đừng…cà lăm có được không?


Mặt nó đỏ rựng lên:


- Mình…mình…!


Cố thúc giục nó lại càng cà lăm tợn. Đành dịu giọng:


- Cậu nhớ ra rồi chứ gì?


Bỗng một bàn tay đặt lên vai tôi:


- Chào hai chú em! Bạn thân nhau à, gặp ở đây thú vị nhỉ?


Tôi giật mình quay lại nhìn người vừa nói, chợt cả người tôi lạnh ngắt, lắp bắp:


- Chú…!


Ngọng trố mắt chăm chú nhìn người mới đến, thốt lên:


- Đúng! Đúng! Ông…ông…đeo gương…đeo gương…đen!


Ngọng nói xong chạy giật lùi ra sau lưng tôi. Khuôn mặt chú Nam như bạnh ra:


- Chú nói ai đeo gương đen? Chú em nhầm với ai đó rồi! Mà đeo gương đen có gì lạ nào?


Thằng Ngọng đứng sau lưng tôi nhọn mỏ lên nói:


- Ngồi…ngồi xe…xe ríp Mỹ!

Quả thật chẳng ai dại bằng thằng Ngọng! Tôi không kịp bịt miệng nó lại. Khuôn mặt chú Nam tái hẳn, chú nhìn thật nhanh xung quanh bằng đôi mắt sắc lạnh:


- Mấy chú em đừng nói dại, tôi đi đánh Mỹ mà lại ngồi xe ríp Mỹ à? Ngu!


Chẳng biết chú nói bọn tôi ngu hay ai ngu nhưng linh cảm sự nguy hiểm cứ lởn vởn quanh hai đứa. Bọn tôi mong gặp anh Thiệu quá! Chú Nam có vẻ như giận lắm, chú đi nhanh lại miệng hầm và mất hút ở đó. Thằng Ngọng khăng khăng chú ấy chính là ông đeo gương đen ngồi trên xe ríp bước ra, tôi cũng tin hai người là một. Khuôn mặt với cái sẹo phía trước lỗ tai thì không lẩn vào đâu được. Càng tin thì nỗi sợ trong tôi càng lớn. Cả hai đứa quyết định trở lại hầm, không đi đâu hết, chờ anh Thiệu về rồi hay và cũng sẽ không hé lộ bất kỳ ai chuyện này.

Căn hầm buổi trưa nhộm nhịp hẳn lên, mọi người trở về nói chuyện râm ran. Hai đứa ngồi trên sạp chặp lâu cũng thấy ngứa ngáy đôi chân, tôi rủ Ngọng:


- Cậu có dây thun không?


Thằng Ngọng nhanh nhẩu:


- Ná…ná…!


Tôi gật đầu, Ngọng đưa tay vào vách hầm kéo bật nhánh rễ sang một bên, lôi ra một bọc nhựa cười "khặc khặc” đắc ý. Tôi thầm công nhận: "thằng này thiệt bài bản và chu đáo”! Trong bọc có hai gọng ná chữ u được bôi máu chim nham nhở, một đùm dây thun. Tôi nhanh chóng làm giàng ná thun, kéo thả đánh "phựt” một tiếng thật êm tai, tròng vô cổ rồi đứng lên:


- đi bắn chim, Ngọng ơi!


Thằng Ngọng quàng ná thun vào cổ, hăm hở như thửa nào cả bọn rủ nhau đánh giặc giả. Hai đứa trèo lên miệng hầm. Một chú "Chắc quạch” đang lơ ngơ trên nhành cây gần đó, tôi cúi xuống lượm hòn sạn bỏ vào bọc ná:

Hình ảnh
hựt” một tiếng khô ấm phát ra, Ngọng reo lên:


- Nghẻo…nghẻo…rồi!



Tôi hứng chí ngồi xuống tìm những hòn đá thật đẹp, tròn trịa lận vào cạp quần. Ngọng chạy đến nhặt con "chắc quạch” lấy máu quệt lên gọng ná, tôi lại cho tiếp chú chim nữa lìa cành, nhưng chỉ bị thương, nó sả cánh chao nghiêng, lượn chập chờn trên những bụi cây, hai đứa cứ thế chạy đuổi theo. Có tiếng cu đất "gù…gù” đâu đó rất gần, tôi vểnh tai lắng nghe, Ngọng sè sẹ đi bên cạnh, cả hai dán mắt lên những ngọn cây. Một con cu đất béo núc đang ra sức "gù…gù” trên cháng ba. Tôi đi nhẹ từng bước tiến lại sát gốc mà cu cậu vẫn không hay biết. Viên sạn trong bọc ná được kéo căng, thằng Ngọng đi phía sau định nói gì đó nghe "ú ớ”. Tiếng dẫm chân mạnh quá làm con cu đất hốt hoảng vỗ cánh bay mất. Tôi bực mình quay lại định sững cồ với nó, nhưng khi vừa nhìn thấy cảnh tượng trước mắt tôi chết điếng suýt đánh rơi giàng ná thun – ông Nam không biết từ đâu xuất hiện đang siết cứng cổ thằng Ngọng. Đôi bàn tay ông ta như hai gọng kìm, nó không kêu được cứ "ặc ặc” trong cuống họng, hai chân choài đạp trên mặt đất. Qua giây phút sững sờ, tôi định la làng nhưng ở đây xa hầm quá sợ không ai nghe thấy, mà thằng ngọng mặt nó tím tái, miệng há to, tôi đưa giàng ná thun lên nhắm thẳng vào mặt ông ta, kéo căng "phựt” ông ta rú lên buông cổ thằng Ngọng ra ôm lấy mặt. Ngọng chưa kịp hoàng hồn, tôi la lớn:


- Chạy! Chạy đi Ngọng ơi!


Thằng Ngọng có lẽ quá khiếp đảm với chuyện vừa rồi, nó líu quíu chạy được vài bước ngã nhào. Ông Nam một tay ôm mặt dính đầy máu, tay kia đưa xuống hông định rút súng, tôi nhét nhanh viên sạn vô bọc ná "phựt” ông ta lại rú lên. Tôi nhào tới kéo Ngọng chạy. Chạy được một đoạn bỗng nghe "đoàng đoàng!” Ngọng đang chạy chợt đứng sựng lại, khụy xuống nó vói theo:


- Hà…Hà em…!


Tôi chẳng còn hồn vía đâu mà đứng lại, cứ thế lao về phía trước "đoàng đoàng!” Tôi chạy bất kể đất trời, gai góc, hố hầm, không dám quay đầu lui. Chạy như vậy có lẽ lâu lắm, đến khi không còn sức nữa, người lảo đảo, rừng cây đầy những dây leo, bụi rậm tôi vấp phải rễ cây ngã sóng soài. Mệt quá! Không đủ sức ngồi dậy được. Nghĩ thầm: "Mình chết dưới tay ông ta rồi! Nó bóp cổ mình cho đến khi tái xanh tái xám, đến lúc thè dài lưỡi ra…là ngủm đời! Hoặc nó "đoàng” một phát…” Nghĩ đến đó tôi thấy rợn cả người. Tôi hé mắt ra nhìn, quanh tôi chẳng có ai cả. Tôi lồm cồm ngồi dậy, đầu gối lác một miếng tươm máu mà vẫn không thấy đau: "thằng Ngọng chết rồi! Nó chết bởi tên Việt gian” lỗi này cũng có phần của tôi – tội nó quá! Tôi không thể để nó nằm ngoài rừng như vậy được, không thể để trương phình lên được. Phải nói cho mẹ với anh Thiệu nó biết nhưng phải làm sao đây? Trở về lại hầm quả thật tôi không dám. Có hai đứa biết tên Nam là Việt gian, một chết rồi còn lại tôi, chắc chắn nó không tha! Mà Việt gian là bán nước, bọn chỉ điểm – ai cũng bảo thế nên tôi lo lắm! Tôi đưa tay xoa đầu gối định vịn gốc cây đứng lên chợt nghe thoang thoảng có mùi gì khét như ai đốt nhựa cây, mùi khói của cỏ - không phải, khét nồng như ai đang hút thuốc! Tôi khom người thật thấp lủi nhanh vô lùm cây gần đó cảnh giác, nghe ngóng. Tiếng sột sạt của lá khô, cành cây gãy làm tôi rờn rợn. Tôi đưa tay vạch tán lá trước mặt, mở căng mắt,vểnh tai nghe ngóng. Mùi thuốc lá thoang thoảng, nhưng vẫn lặng im không một bóng người. Tôi toan bò ra núp vào gốc cây to gần đó quan sát cho rõ. Chưa kịp thực hiện ý định thì một bóng người xuất hiện cách lùm cây tôi ngồi ước chừng mười bước chân. Tôi run bắn người: "Ông ta!” Đúng là ông Nam một tay cầm súng, tay kia gạt những cành cây chắn lối. Một bên mặt bê bết máu, con mắt bên trên nhầy nhụa đỏ lòm, tôi suýt reo lên: " Nó bị lòi một mắt!” Nhìn giống như ác quỉ. Tôi run quá! Đến nước này nó sẽ giết ngay nếu phát hiện ra tôi. Khẩu súng trong tay nó vung vung chỉa về phía trước, xoi mói từng gốc cây, bụi rậm. Đang đi bỗng nó dừng lại ngó quanh. Tôi đâm hoảng. Phát hiện ra tôi chăng? Tim tôi đập thình thịch, to quá! Có lẽ ở ngoài kia nó nghe mất thôi. Tôi dùng tay bóp chặt lấy ngực, gập người xuống bất lực nhìn nó.



Ngồi như vậy chừng như lâu lắm, tôi chờ nghe một tiếng súng. Vẫn yên lặng, chỉ có tiếng bước chân sột sạt dẫm trên lá khô. Tôi hơi quỳ xuống, cúi thấp chồm tới phía trước. Trông tên Nam có vẻ kiệt sức, đi loạng choạng. Nếu ná thun còn đạn, tôi sẽ nhắm thật chính xác vào con mắt còn lại của tên Việt gian. Nó lòi cả hai mắt thì chẳng còn gì để sợ nữa. Nhưng khẩu súng đen ngòm cứ nhè vào hướng tôi ngồi núp mà ve vẫy. Tôi đảo mắt nhìn quanh tìm hòn sạn, chẳng có! Ngoài mấy cục đá bự chảng. Chợt dưới chân có cái gì đó trơn trơn, mát lạnh cứ chuồi qua quẹt lại, tôi toan rụt chân lên thì một cái đầu rắn trườn tới, dọc theo người: "Trời ơi, rắn hổ mang!” tôi điếng hồn, tê cứng cả người. Con rắn dài quá, to hơn cả cổ tay. Từng khoanh vàng mềm mại lướt như trôi qua người. Cái lưỡi thè thè ra trông đến khiếp, mùi tanh nồng phả vào mặt. Tôi không dám cử động, mà cũng không thể cử động được. Hai mắt tôi mở thao láo, toàn thân xanh dờn không một giọt máu. Con rắn hổ chầm chậm ra khỏi bụi đi về phía tên Nam. Tôi đưa mắt nhìn theo: "Ứơc gì nó "đớp” thằng đó một phát nhỉ! Tên Nam nhìn thấy con rắn định chỉa súng bắn, nhưng nghĩ sao lại cúi xuống nhặt lấy khúc cây rồi bỏ đi. Tôi vẫn nằm im thật lâu chừng như nó đi khá xa mới rón rén bò ra khỏi bụi rậm.



Tôi ra khỏi lùm cây theo đường cũ tìm về căn hầm, về lại nơi thằng Ngọng bị bắn chết. Đi chừng đã mỏi nhừ hai chân mà chẳng thấy căn hầm đâu. Càng đi, cảnh vật, cây cối càng lạ hoắc, dây leo chằng chịt: "Lạc đường rồi!” Tôi đâm hoảng, quày trở lui. Đi như thế không biết bao lâu gặp được cánh rừng thưa. Vừa đói vừa khát cọng với nỗi sợ hãi khiến tôi kiệt sức. Định ngồi xuống thân cây ngã để nghỉ ngơi, bỗng có tiếng bước chân nghe rất gần: "Thằng Nam?” Đành bó tay, hết đường trốn rồi! Nó sẽ chỉa mũi súng vào lưng tôi: "Đoàng!” Thế là xong! Như bản năng, tôi ngồi thụp xuống quay lui: "Không phải nó!” Cách chỗ tôi không xa có hai người phụ nữ kỳ lạ - một già một trẻ, không mặc áo, chỉ quấn tấm vải bên dưới, trên lưng mang một gùi củ mỳ. Chẳng biết là ai nhưng tôi mừng lắm, như có thêm sức mạnh, tôi nhảy phóc qua thân cây ngã chạy theo. Hai người phía trước đang đi bỗng vụt chạy. Tôi ra sức đuổi, họ lại càng chạy nhanh. Do phải mang nặng trên lưng, hơn nữa, tấm vải quấn quanh bụng vướn víu khó chạy. Hai phụ nữ la lên, tiếng nói nghe lạ lắm, tôi chưa từng được nghe. Vừa chạy tôi vừa gào to:


- Đừng chạy! Đừng chạy! Con chỉ hỏi thăm đường thôi mà!


Hai người càng chạy hăng hơn. Những củ mỳ rơi tung tóe. Từ phía sau có thêm mấy người chạy tới, họ cũng mang củ mỳ trên lưng. Người đàn ông và một đứa nhỏ trạc bằng tuổi tôi. Chẳng cần biết ất giáp gì, đứa nhỏ lao vào đánh tôi túi bụi. Thấy nó hung hăng xông đến đấm đá, tôi chỉ biết gồng người ra chịu trận. Thực ra tôi cũng có thể đánh lại hoặc bỏ chạy. Hoặc hơn thế, với chiếc ná thun trong tay tôi dư sức cho nó thua trận. Nhưng tôi đang muốn hỏi thăm đường về lại căn hầm. Sau một hồi đấm đá tơi bời mà không thấy tôi chống trả, nó xem ra cũng mỏi tay. Người đàn ông đi đến nhìn tôi dò xét. Hai phụ nữ cũng quay lại, họ lượm những củ mỳ quăng ngược lên lưng, rồi nhìn người đàn ông và đứa nhỏ, họ nói gì đó. Người đàn ông tiến đến gần tôi nói một tràng, tôi chẳng hiểu gì, lòm còm bò dậy. Tay chân, mình mẩy đau nhừ, mắt trái bị một cú đấm sưng húp. Tôi cố đứng lên nhìn ông ta, phân bua:


- Cháu lạc đường, cháu đói bụng cháu không làm gì cả!

- Mày là người Kinh?


Chẳng biết người "Kinh” là gì nhưng tôi đoán chắc không xấu như "Việt gian” nên gật đầu bừa. Có lẽ ông ta cũng hiểu được đôi điều, ông cười cười nhìn đứa nhỏ. Nó rón rén đến gần, đưa tay sờ vào người, vào chỗ sưng húp trên mắt. Người phụ nữ đi đến bụi cây bứt mấy lá gì đó bỏ vô miệng, rồi tới chỗ tôi nhả nhúm lá nhai nát bém lên bàn tay, bốc lấy đắp lên nơi mí mắt sưng. Bà ta làm như vậy tôi cũng thấy được an ủi phần nào. Thằng nhỏ ngập ngừng đến bên, cầm tay tôi nói:


- Tao tưởng mày đánh mẹ…


- Mình chỉ hỏi thăm đường.


- Mày về nhà tao đi. Ăn no cái bụng đã, cái nắng cao lắm rồi!

- Nhà bạn gần đây không?

- Tao không phải "bạn”, tao là Riêng. Mày đi chừng một "khâu rựa” thôi là tới nhà tao mà!


Tôi hiểu láng nháng nhưng chẳng hỏi lại.


Phạm Tú Uyên
(Còn tiếp)
Hình ảnh
KÝ ỨC TUỔI THƠ (Tiếp theo)
[font=]
Không biết "khâu rựa” của thằng Riêng kiểu gì đi muốn sái cả chân, đờ cả mắt mà làng xóm vẫn bặc tăm. Công nhận đôi chân của nó cứ thoăng thoắc, gùi củ mỳ nặng oằn trên vai nhưng trông cứ như không.


Đến chừng quá xế trưa, bóng nắng bắt đầu chạy dài chúng tôi mới về tới làng. Làng của nó chẳng giống quê tôi chút nào, lèo tèo mấy nóc nhà, mà nhà nào nhà nấy cao lêu đêu, liu xiu như sắp ngã. Người ở bên trên, phía dưới đàn heo nằm phơi bụng, lũ gà đứng trên những thanh gỗ ngang, niễng mặt nhìn chúng tôi. Mọi người móc gùi mỳ vào cháng cây, leo cầu thang lên nhà, bọn gà lao tới mổ lia lịa. Người đàn bà rút mấy củ quăng xuống cho đàn heo. Bọn heo con, heo lớn rượt nhau giành ăn kêu ụt ịt cả góc sân. Tôi theo thằng Riêng leo lên hết cầu thang, ngồi phịch xuống sàn gỗ thở dốc, nó chỉ tay về một hướng xa lơ nào đó, nói:


- Mày ở dưới kia phải không? Cái chân dưới đó không đi được trên những trái núi đâu!


Tôi nóng mặt chống chế:


- Mình đi nhiều ngày rồi, mà bụng luôn thiếu ăn...

- Tao sợ đói cái bụng thôi, không sợ đi.


Hai người phụ nữ tôi gặp đầu tiên - mẹ và chị nuôi của nó. Người đàn ông tên Leo cũng là cha nuôi. Nó lạc gia đình khi buôn làng bị ném bom, nhà ông Leo cũng có một đứa con bằng tuổi nó chạy lạc nên gặp Riêng ông Leo nhận nuôi luôn. Trong nhà, mọi người đang chuẩn bị ăn trưa. Riêng khoe với tôi:


- Mấy ngày trước làng tao có con trâu chết, thịt trâu chia còn nhiều lắm, mày sẽ được ăn no cái bụng.


Tôi là đứa trẻ háu ăn. Lâu nay bữa đói bữa no, lúc đói nổ đom đóm mắt, tái xanh tái xám, khi no lưng chén cơm chẳng thấm vào đâu. Nay nghe nhà thằng Riêng còn rất nhiều thịt, mắt tôi sáng trưng, đưa tay xoa xoa cái bụng lép xẹp nhủ thầm: "Mày sẽ không còn réo nữa nhá!” Chẳng đợi đến tiếng gọi thứ hai của mẹ Riêng, tôi đã ngồi xếp bằng ngay ngắn bên cái nia được phủ tàu lá chuối xanh rì. Bếp lửa bập bùng nổ lách tách, nồi củ mỳ sôi sùng sục. Ông Leo với tay lên giàn bếp lấy xuống một xâu thịt…đã bốc mùi! Lớp da vàng cháy chuyển sang màu xám xịt, còn thịt tái méc. Ông ta dùng dao cắt từng lát to tổ chảng. Tôi khều thằng Riêng, thầm thì:


- Ăn thịt này à?

- Ừm!

- Có kho, nấu gì không?

- Không!

- Để vậy?

- Ừ!

- Mình thấy…muốn mửa. Nó thu….í!


Riêng trợn mắt nhìn tôi:


- Mày không ăn là cái bụng của mày không thiệt lòng, không tốt đâu!

Tôi chưa kịp nói gì thì ông Leo lấy thêm một xâu gì lòng thòng treo trên vách. Mùi thúi lan tỏa khắp căn nhà, nếu không vì cái lườm mắt và câu nói vừa rồi của thằng Riêng chắc tôi đã chạy ra ngoài rồi, quả thật không thể chịu nổi. tôi lại khều nó:


- Cái gì thế?

- Ruột!

- Để làm gì?

- Ăn!

- Ăn?

- Ừ, chấm với muối!

- Sao lại có cái món ấy?

- Mày không biết à? Quý lắm!


Nó giảng giải:


- Khi mổ trâu, người ta lấy ruột non cột lại treo lên xà, để dành ăn!


Nó nói tỉnh rụi làm tôi lợm giọng, muốn ói quá. Ruột cứ cuồn cuộn như cố đẩy hết thảy những gì có trong đó ra ngoài. Tôi gập người lại, một chút nước gì chua lét tứa ra trào lên miệng, tôi nhổ vội xuống giữa hai kẹt chân, dẻo quẹo chảy dài thành sợi như dây cước câu cá. Ông leo đang xắc đùm ruột nhìn thấy tôi mặt mày xanh xám, miệng chảy nước giải chắc tưởng đói lắm, ông ngừng tay, nói:


- Tao biết cái bụng mày đói lắm rồi!


Nói rồi ông chồm người tới nồi củ mỳ trên bếp đang bốc hơi nghi ngút, nhón một củ để trước mặt tôi, bốc luôn một vốc ruột vừa xắc bỏ vô tô. Ông cười khè khè:


- Người anh em ăn đỡ một miếng đi. Ăn xong món này đến năm trái núi cũng trèo qua nổi.


Tôi lúng búng trong miệng, nước miếng trong tứa ra, cổ họng như muốn mở toang hoác, lại sắp ói rồi. Tôi vùng chạy ta ngoài, thằng Riêng vụt theo giữ lại. Nó thầm thì:


- Tao biết mày không ăn được cái đó, nhưng mày bỏ chạy không tốt đâu, mọi người nghĩ mày không có cái bụng giống họ!


Cứ nghĩ đến những món đó đã sởn gai óc rồi chứ đừng nói gì ăn. Tôi nói như van lơn:


- Có cách gì giúp mình đi, không thể ăn cái món lòng ruột ấy được!

- Mày ăn củ mỳ với thịt…

- Thịt cũng…hôi!


Nhưng có lẽ thịt…đỡ hơn! Tôi nghĩ thế. Riêng đẩy tôi vô lại nhà, nói gì đó với cha mẹ rồi quay sang tôi:


- Mày ăn thịt với củ mỳ!


Một bữa ăn được háo hức chờ đợi tan biến nhanh trong tôi. Ngồi nhìn cả nhà ăn thật ngon lành, loáng cái trên nia lá sạch banh thịt, lòng. Mọi người đứng lên, tôi cầm theo củ mỳ vừa ăn vừa trèo xuống sân.


Nắng chiều chỉ còn sáng trên ngọn cây. Buôn làng hiu hắt với những sợi khói vương vương trên mái tranh. Thằng Riêng muốn tôi ở lại chơi với nó đến "con trăng” sau, nhưng không thể được. Tôi còn phải đi tìm anh Sơn, tìm gặp ba, gặp anh Thiệu và cả thăm thằng Ngọng nữa. Giá như đừng có bom đạn chiến tranh, gia đình không lưu lạc mỗi người một phương như thế này tôi sẽ ở chơi không chỉ một "con trăng” thôi đâu! Tôi đã kể nó nghe về Ngọng, về tên Việt gian và lấy gọng ná thun khoe với Riêng:


- Mình dùng cái này bắn lòi mắt tên Việt gian để cứu Ngọng đấy!


Thằng Riêng có vẻ thích, nó ngồi im lặng lắng nghe. Khi tôi kể về gia đình, những năm tháng ấm êm, rồi cả nhà lưu lạc… Nó cầm tay tôi, hai mắt đỏ hoe:


- Tao cũng giống mày, giờ không biết cha, mẹ và em ở đâu!


Nỗi thương cảm trong lòng lại dâng trào, tôi thương nó bơ vơ, nó thương tôi lưu lạc. Hai đứa trẻ cùng cảnh ngộ ngồi với nhau bên đống lửa bập bùng trong đêm. Trẻ con thế đấy! Mau nhớ nhưng cũng nhanh quên, khi tôi gương ná thun bắn "phựt” vô đống lửa, tàn lửa nở hoa bay tứ tán, nó chạy ù lên nhà cầm xuống một vật mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Riêng trịnh trọng đưa lên ngang tầm mắt nói:


- Đây là cái "nỏ”...!


Tôi tò mò sờ lên cái "nỏ” của nó, sớ gỗ láng tưng, đen bóng giống như chữ "Đ”. Thằng Riêng rút từ trong ống tre ra một cây que như chiếc đũa dài: "À, mũi tên!”. Nó kéo căng sợi dây cài vào chốt sau, đặt mũi tên lên khe nỏ, quỳ xuống nhắm vào khúc củi to đang bén lửa: "phựt” Tiếng nổ thật đanh, khúc cây lung lay, hoa lửa lại bay tung tóe. Tôi đến gần đống lửa, mũi tên gim chặt, phần đuôi còn rung nhè nhẹ. Tôi reo lên:


- Hay quá!

- Tao đi săn với cha, bắn cả heo rừng…

- Nếu cái "nỏ” bé bé một tí sẽ vừa tay cậu hơn!

- Của cha tao mà!


- Thích ghê!


Tôi rút mũi tên ra khỏi khúc củi thầm nghĩ: " Nếu cái này mà găm vào mặt tên Việt gian thì chắc là xuyên qua sọ rồi!” Riêng thấy tôi mân mê mũi tên, liền nói:


- Rồi tao đẽo cho mày một cái nỏ thật đẹp!

- Và mình sẽ học bắn nỏ.

- Còn tao tập ná thun.


Buổi sáng khi thức giấc, mọi người lên rẫy cả. Ánh nắng len vào nhà qua kẻ liếp thành từng miếng phẳng, nổi vân những sợi khói từ bếp tỏa ra. Nồi củ mỳ thơm phưng phức cơi tràn nắp vung. Bụng đói cồn cào, tôi bật dậy đi ra phía cầu thang. Thằng Riêng ngồi bên bụi cây Cò ke làm gì đó thật chăm chú. Thấy tôi, nó im lặng phủi tay đứng dậy đi thẳng lên nhà, lát sau bưng xuống rổ củ mỳ. Tôi cúi xuống cầm thanh gỗ đẽo nham nhở hỏi:


- Bạn làm cái gì đây?

- Nỏ!

- Gần xong chưa?

- Gần!

- Khi nào…?

- Con trăng sau!

- ……

Tôi chưng hửng, nhìn dáng vẻ miệt mài gọt, đẽo của nó đâm thương quá, ước gì ở đây lâu hơn! Tôi ngồi xuống cạnh, choàng tay qua cổ Riêng, nói:


- Ừ! Khi nào xong mình sẽ xin bạn.

- Không đâu, tao làm cho mày mà!

- Giờ Riêng cất đi, tụi mình còn phải đi nữa.


Nó dừng tay đẽo, gác miếng gỗ lên cháng ba gốc Cò ke, chạy lên nhà mang gùi xuống, không quên cầm theo cái nỏ và bó tên. Nó khoe:


- Mẹ tao nấu xôi nữa!


Tôi cắt tàu lá chuối gói thêm mấy khúc củ mỳ cho vào gùi rồi mang lên vai. Thằng Riêng nhìn cười cười:


- Trông mày giống người của tao quá!

Nghe nó nói tôi thấy vui vui, cúi xuống nhìn lại mình. Quả thật, hai đứa chẳng khác gì nhau mấy. Chiếc quần xà lỏn mặc lâu ngày nó như cái lò xo, rút lên tới háng. Chiếc áo rộng thùng thình cũ mèm, dơ cứng phủ quá mông, chẳng thể gọi nó màu gì. Còn tay chân, mặt mũi còm nhom, đen sì. Thấy tôi có vẻ…thích mang gùi, nó lặng lẽ đến cột nhà sàn lấy xuống cái gùi khác to hơn mang vào vai. Thằng Riêng cầm nỏ tôi cầm rựa, hai đứa lên đường.


Nắng lên khá cao nhưng trong rừng cái lạnh còn se se, cỏ ven đường ướt đẩm hơi sương. Tôi vừa đi vừa nhai củ mỳ. Thằng Riêng quả có đôi chân bằng vàng, nó đi thoăn thoắt. Gặp những lùm gai mây lòa xòa, bụi rậm dây leo chằng chịt nó cứ phăng phăng, tôi theo muốn bở hơi tai. Hai đứa vượt qua những rẫy nương của người vùng cao. Gần trưa gặp một con suối nhỏ, cả hai dừng lại nghỉ. Thằng Riêng lôi từ trong gùi tôi toàn bộ lương thực mang theo: "Vài củ mỳ sống, túm khoai lang xắc khô, đùm xôi cùng củ mỳ chín mà tôi bỏ theo ban sáng. Nó chọn một tảng đá bằng phẳng, mở đùm xôi hai đứa bốc ăn ngon lành. Ăn xong thằng Riêng men theo dòng suối, tôi nằm duỗi dài trên phiến đá, nhìn lên bầu trời qua kẽ lá. Nó đi loáng cái đã quay lại, trên tay một xâu cá trắng ánh bạc còn đang quẫy rật rật. Không nói không rằng, nó lấy hai hòn đá bằng nắm tay ngồi xuống đập "chách chách”. Chẳng hiểu Riêng định làm gì, tôi tò mò nhìn theo. Nó ngồi đập "chách chách” chừng gần bằng thời gian ăn bửa xôi. Đập rồi lại thổi "phù phù”. Không thể đoán là nó đang làm trò gì, tôi cứ căng mắt theo dõi. Không phải đợi lâu, từ chỗ thằng Riêng thổi, một làn khói mỏng yếu ớt bay lên. Chưa hết ngạc nhiên, sợi khói to dần rồi bùng lên một ngọn lửa. Không nhịn được, tôi reo đầy thán phục:


- Hay quá!


Riêng ngơ ngác:


- Mày nói hay cái gì?


Tôi đưa tay chỉ vào ngọn lửa đang cháy:


- Bạn làm ra lửa hay quá!


Nó ngẩn người:



- Cái lửa này ai cũng làm được mà!


Vừa nói nó vừa nhặt những thanh củi khô bỏ thêm vô đống lửa, tôi nhanh nhẹn tìm cành cây xiên vào những chú cá.


Lâu lắm rồi chưa hề được ăn món cá. Trong bụng đủ thứ bà lằng: "Bắp, mỳ, khoai lang, cơm, xôi…” Đôi khi đỡ dạ bằng xoài rừng chua léc, ổi dại bằng ngón chân nhai muốn rớt cả răng. Bụng căng cứng nhưng chừng như vẫn thiêu thiếu, vẫn thấy đói! Mùi cá nướng tỏa ra thơm nức, hai đứa bẻ ăn ngon lành. Tôi góp thêm bữa ăn "món cá nướng” là con "Cà cưởng” và chú "cu đất”. Món này làm không công phu như ở quê, chẳng ướp muối ớt, cuộn lá ổi gì ráo. Vặt lông sơ sài thảy vào đống lửa, các chú căng tròn vàng tươm, mùi thơm muốn toát lỗ mũi. Tôi xé "cu đất” ra làm hai đưa Riêng nửa con. Nó cầm nhai ngang, rau ráu cả xương. Nó ăn giống thằng Ngọng quá! Tôi bần thần: "Ngọng ơi!” Hình ảnh nó trợn mắt, ngáp ngáp, hai chân choài đạp dưới đất cứ ám ảnh mãi trong tôi mỗi khi nghĩ về Ngọng. Không chịu nổi, tôi hét toán lên: "Tao sẽ trả thù cho mày!” Thằng Riêng đang ăn nghe tôi hét, nó giật mình đánh rơi miếng thịt xuống đất. Sợ hãi nhìn tôi toan chạy, tôi kéo nó lại:


- Không sao đâu, tại mình thương thằng Ngọng quá!

- Giàng ôi! Tao tưởng mày…bị con ma nó bắt!


Tôi không nói gì, nhặt củ mỳ bỏ vào gùi. Hai đứa lội qua suối cắt rừng đi tiếp. Thằng Riêng tài thực, đi trong rừng nó như con nai, con sóc, gặp bất kỳ trái, quả nào nó cũng có thể bỏ vô miệng. Một cành cây choài ra đường, trĩu những quả chín, vàng ươm, nó vặt mấy quả quăng vào gùi. Tôi cũng với tay hái hai quả, mật tươm ướt cả tay. Quả lớn bằng trái chanh, lởm chởm gai như chôm chôm nhưng mềm hơn. Tôi chưa biết phải ăn như thế nào, Riêng bỏ nguyên trái vào mồm – "Thằng này tham ăn thật!” Tôi rủa thầm và từ tốn cắn từng miếng một. Mùi thơm ngọt, hăng nồng lên mũi. Chưa kịp nuốt, bỗng đầu lưỡi rồi khắp cả miệng tê rát, nóng và cay như nhai phải ớt. Tôi phun phù phù, chùi lia lịa vào ống tay áo. Thằng Riêng thấy vậy đứng cười như nắc nẻ:


- Trái này chỉ mút thôi, không ăn được đâu mà!

- Sao không nói trước?

- Tưởng mày biết!

- Có bị làm sao không?

- Không!

- Miệng tao nóng như ngậm lửa...

- Ừ!


Nó vô tâm đến tỉnh bơ trong nỗi sợ hãi khiến tôi tức phát điên. Đôi môi giựt tưng tưng, tôi đưa tay lên sờ, nó căng như được bơm hơi. Riêng cứ cười khúc khích, tôi nổi cáu:


- Mày cười được nữa à?

- Tao không cười mày.

- Cười ai?

- Cười miệng mày thôi mà!

- …???

- Nó giống lỗ đít con gà sắp đẻ.


Tôi nhào tới lấy trái cây còn lại nhét vô mồm nó cho bỏ ghét. Thằng Riêng cắm đầu chạy thục mạng, tôi rượt theo, cứ thế hai đứa chạy gần hết cánh rừng lúc nào không hay. Thằng Riêng đang chạy bỗng đứng phắt lại, nó nom nom cái gì đó ngoài bìa rừng rồi ra dấu cho tôi im lặng. Tôi lom khom nép theo những thân cây đến bên, nhìn theo tay nó chỉ. Ngoài bìa rừng là rẫy trồng mỳ, có hai người đang bẻ lá mỳ bỏ vào gùi, bên cạnh còn hai người nữa – một bộ đội và một đàn bà. Họ đang nói với nhau chuyện gì đó. Những tán lá mỳ xanh mướt che khuất tầm nhìn nhưng tôi vẫn nhận ra họ, tôi reo lên sung sướng:


- Anh Thiệu!


Bất kể những cây mỳ cản lối, những gai góc ken dày, tôi lao về phía trước, Riêng cũng chạy theo sau. Anh Thiệu trố mắt nhìn hai đứa trẻ dân tộc từ trong rừng phóng ra, anh không hề nhận ra tôi. Thằng Riêng đuổi kịp, kéo tôi lại:


- Họ…chắc không phải người tốt mà!


Tôi đâm ra bối rối: "sao anh Thiệu làm mặt lạ với mình nhỉ?” Người đàn bà trông quen quen: "Ô! Bác Tư!” Tôi chưa kịp lên tiếng, mẹ Ngọng nói to:


- Đứa nào đi trước giống thằng Hà em, phải không?


Tôi sung sướng hét lên:


Con! Hà em - Hà em đây bác Tư ơi!

Bác Tư, cả anh Thiệu chạy về phía tôi:


- Trời đất! Mới có hôm qua mà trông em lạ hoắc, miệng mồm dị dạng thế?


Bác Tư ôm tôi vào lòng, bác khóc:


- Bác nhận con qua linh cảm thôi, sao lại ra nông nỗi này? Còn thằng Ngọng của bác…


Tôi chợt nhớ ra điều quang trọng nhất, bèn hỏi:


- Thằng Ngọng…?


Anh Thiệu không để tôi nói hết câu, kéo ngồi xuống tán cây mỳ tránh nắng:


- Em ngồi xuống đây đi. Ngọng bị thương nặng lắm nhưng đã qua khỏi nguy hiểm rồi, bác sĩ bảo thế!

- Từ hôm qua đến giờ lo cứu chữa thằng Ngọng xong mọi người đổ xô tìm cháu.


Mẹ Ngọng chen vào. Tôi bồn chồn:


- Nó bị bắn trúng chỗ nào vậy anh?

- Giờ thì em kể cho anh với mẹ nghe buổi trưa hai đứa đi đâu, và ai bắn Ngọng?


Tôi đinh ninh một điều rằng: "Khi gặp anh tôi sẽ kể hết những gì đã xảy ra” nhưng giờ lại đâm lúng túng, không biết phải bắt đầu từ đâu. Đang loay hoay với những hình ảnh rời rạc được chắp nối dần thì phía dốc rẫy một người chống gậy đi lên. Với cái dáng đi ấy, với con người đó tôi không bao giờ quên được. Tôi run bắn lên, toan chạy nhưng chẳng hiểu sao tay chân cứ cứng đơ. Tôi chỉ tay về hướng người đang đi lên, thều thào:


- Tên… Tên Nam!



Anh Thiệu và bác Tư ngạc nhiên nhìn tôi. Thằng Riêng ngồi bên chờ hóng chuyện, thấy tôi hốt hoảng nó chưa hiểu ra, nhưng có vẻ đoán được sự nguy hiểm khi "người lạ” đến. Nó chụp lấy cái "nỏ” với ống tên rồi kéo tay tôi:


- Người này xấu à? Hay nó là tên "Việt gian” mà mày kể?

Tôi gật đầu, Riêng nói:


- Đi!


Tôi chụp tay anh Thiệu quay qua bác Tư:


- Đừng nói con đang ở đây, đừng nói gặp con!


Bác Tư trố mắt ngạc nhiên, anh Thiệu dường như đoán ra sự việc Ngọng bị thương và tôi bỏ chạy có liên quan đến ông Nam. Anh gật đầu nhìn hai đứa đi tới chỗ mấy người dân tộc bẻ lá mỳ. Thằng Riêng đặt tay lên vai tôi, nói:


- Mày đừng có sợ!


Tôi lom khom nhìn qua tán lá, nói khe khẻ:


- Nó là…thằng "Việt gian”!

- Tao bắn nó?

- Giờ thì không được!


Riêng đứng thẳng người, nói:


- Được mà!

- Không! Có anh Thiệu rồi để anh Thiệu xử, bạn không được làm lộ.


Nó không nói gì, tỏ vẻ bực bội, nhìn sang mấy người bẻ lá mỳ tuôn một tràng tiếng lạ hoắc rồi quay sang tôi:


- Tao với mày bẻ lá đi!


Tôi chẳng có hồn vía đâu bẻ lá. Thằng "Việt gian” đang đứng bên anh Thiệu nói chuyện. Tôi cố căng tai nghe ngóng. Mắt dán chặt vào nó. Khoảng cách tuy không xa nhưng gió rừng thổi u u, thêm vào đó những cây mỳ cao lêu đêu, mang trên thân từng túm lá khô, lắc lư xào xạc nên chẳng tài nào nghe được. Nó hươ hươ tay nói gì đó rồi chỉ về phía hai đứa đang đứng. Tôi run bắn lên khi nó dợm chân định bước tới. Anh Thiệu đặt tay lên vai nó nói gì đó rồi chỉ tay về hướng bìa rừng. Thằng Riêng rút mũi tên cầm tay, nói với người đàn ông bẻ lá mỳ, ông ta cầm cái rựa đi theo. Riêng nhìn tôi trấn an:


- Tao nghe lời mày rồi mà! Tao chỉ không cho nó vô đường này thôi.


Nói rồi người cầm "nỏ” kẻ cầm rựa băng băng đi ra. Thằng Riêng quả lanh lợi và thông minh thật! Nó và người đàn ông tiến thẳng tới nhóm người đang đứng nói gì đó, tên "Việt gian” có vẻ nghĩ ngợi rồi đi về phía bìa rừng. Đợi "nó” đi thật xa tôi mới lò dò chui ra khỏi rẫy mỳ. Bác Tư nhìn thấy hỏi ngay:


- Ông ta đi tìm cây thuốc gì đó chữa mắt, sao con lại sợ?

- Thế không nói gì nữa à? Có nói...tìm con không?

- Không! Chỉ nói bị cây đâm vô mắt...

- Con bắn vô mắt ông ta đấy!


Bác Tư há hốc miệng:


- Sao thế? Sao con lại bắn vào mắt ông ta?


Chưa kịp trả lời anh Thiệu đến cầm tay tôi:


- Có liên quan như thế nào đến Ngọng bị thương? Em kể hết cho anh nghe.

- Tại nó bóp cổ Ngọng!

- Sao lại bóp cổ Ngọng?


Tôi bắt đầu từ chuyện ở dưới hầm, chuyện ông ta " ngồi trên xe "ríp” Mỹ ở ga Gò Mầm, rồi ông tái mặt như thế nào khi thằng Ngọng nhận ra, rồi bọn tôi rượt theo con cu đất, rồi ông bóp cổ… Tôi nhất nhất kể lại nhưng chẳng đầu chẳng đuôi. Anh Thiệu và bác Tư chăm chú lắng nghe. Nghe xong, như phát hiện được điều gì, anh Thiệu vụt đứng phắt dậy, nói:


- Con phải báo cáo gấp chuyện này cho đơn vị, thằng Ngọng có thể bị nguy hiểm. Má đưa Hà em về hầm dùm con!


Anh quay sang tôi:


- Em nhớ đừng để ông Nam thấy và không được nói chuyện này với ai nghe.


Anh dặn xong đi nhanh xuống đồi và mất hút vào cánh rừng thưa. Thằng Riêng đề nghị cho nó cùng theo về tới hầm trú, tất nhiên là tôi rất vui.

Bác Tư nôn nóng trở về với thằng Ngọng nên bác đi như chạy. Riêng có vẻ buồn, tôi hỏi gì nó cũng không nói, chỉ ầm ừ cho qua chuyện, nhưng tôi muốn nó vui. Gợi chuyện hoài mà nó vẫn câm như hến, tôi đâm ra bực mình, gắt:


- Cậu ngậm hột thị à?


Nó há miệng ngơ ngác:


- Không có mà!

- Sao cậu không nói?

- ……

- Giận mình hả?

- Không, giận tao!

- …???

- Tao…phải xa mày mà!


Trong tôi như có một cái gì đó chạy rần rần khắp người. Tôi dừng lại cầm tay nó, đôi bàn tay khô cứng, nhỏ và đen xám. Tôi bóp thật mạnh: - "Riêng ơi! Xa cậu, mình cũng rất nhớ! Biết không?” Nghĩ vậy nhưng không nói được lời nào. Môi rung rung, ngực như có tảng đá đè. Có lẽ thằng Riêng cũng tâm trạng như tôi, nó siết chặt đôi tay định nói gì đó, bác Tư đi phía trước giục:


- Nhanh lên hai đứa!
[/font]

Phạm Tú Uyên

(Còn tiếp)
KÝ ỨC TUỔI THƠ (Tiếp theo và hết)



Sắp gặp được thằng Ngọng rồi lại phải chia tay với Riêng, tôi vui buồn lẫn lộn. Mảnh rừng có căn hầm đang ở trước mặt. Chợt anh Thiệu xuất hiện, có thêm một chú bộ đội nữa. Anh nói gì đó với chú bộ đội rồi đi đến bên tôi và Riêng:


- Em không phải về hầm, cũng khoan đến thăm Ngọng…


Tôi ngạc nhiên chưa kịp hỏi vì sao, anh xoa đầu tôi nói tiếp:


- Để bảo vệ an toàn cho em, em phải đi theo anh Kim.

- Nhưng em cần thăm Ngọng…

- Rồi em sẽ được thăm nhưng không phải bây giờ.


Tôi bối rối đưa mắt nhìn Riêng, anh Thiệu nói luôn:


- Cả cậu bé này cũng đi với em.


Thằng Riêng tái mặt:


- Cán bộ bắt tao à?


Anh Thiệu cười, kéo hai đứa lại gần nói:


- Không có bắt em đâu mà! Đi với Hà em rồi vài hôm nữa anh đưa “cậu bé tốt bụng”về nhà. À! Hà em đến đó sẽ có tin vui.


Nghe anh nói có tin vui tôi sướng đến tê người, chạy đến níu tay anh:


- Anh nói đi, Anh Sơn phải không? – Hay em gặp ba?

- Gần như vậy. Em đến đó khắc biết!


Nói xong anh đi với bác Tư về hướng căn hầm. Tôi tần ngần định chạy theo hỏi cho rõ nhưng anh Kim ngăn lại, bảo:


- Ta đi thôi các em!


Nói xong anh Kim đi trước, Riêng kéo tay tôi nối gót theo sau. Quả thật, lời nói úp mở của anh Thiệu dù gây cho tôi nhiều thắc mắc, đưa vào lòng tôi những nghĩ ngợi mông lung, nhưng dẫu gì thì đó cũng là niềm vui. Niềm vui tột cùng trong tôi, niềm vui không thể dấu trong lòng được, nó toát ra từ ánh mắt, tiếng cười, từ dáng đi, điệu nói. Tôi sắp gặp ba hay anh Sơn đây? Với ai thì trong tôi cũng đang rộn ràng, lâng lâng sung sướng. Từ ngày xa nhà đến nay không biết bao tháng, bao ngày. Đói khát, hiểm nguy cứ rập rình từng bước chân. Nẻo đường loạn lạc đi tìm cha, tìm anh giờ đây rực lên, ửng hồng phía trước. Tôi bước đi như con chim sáo. Thằng Riêng không hiểu vì sao anh Thiệu lại bắt nó đi theo tôi cùng anh bộ đội, nhưng thấy tôi vui, cười nói líu lo nên nó cũng bớt nghĩ ngợi. Hơn nữa, cùng đi với tôi đó là điều mà lòng nó muốn. Khi tôi nói “sắp được gặp cha” nó nhảy cẫng lên ôm lấy tôi, nó reo mừng như niềm vui này là của nó vậy. Đây là lần đầu tiên thấy thằng Riêng biểu lộ tình cảm, và đã gây cho tôi một cảm xúc khó tả: - “Riêng ơi! Cậu thật tốt với mình” Tự nhiên tôi nghĩ đến và thương nó quá! Cha mẹ và em nó giờ ở đâu? Sống chết ra sao? Nó buồn, đau lòng như tôi đã từng tan nát ruột gan khi nghe anh Sơn bị chết trên dòng sông. Nghĩ thế nên tôi không nhảy chân sáo nữa, miệng thôi cười, đi chầm chậm bên Riêng:


- Mình với bạn lại đi bên nhau, thích nhỉ?

- Ừ, thích!

- Rồi bọn mình hỏi tìm cha mẹ và em bạn.

- ……

- Bạn đừng buồn. Sẽ gặp mà…!


- Họ chết cả rồi!

- Sao lại nghĩ thế, mình tin là vẫn còn sống và đang tìm bạn đấy!


Niềm hy vọng dù le lói vẫn tốt gấp ngàn lần hơn để nó tắt ngấm. Tôi đã biết như vậy khi nghĩ về anh Sơn. Có vẻ lời tôi nói làm nó vui hơn, khuôn mặt lại rạng rỡ. Dường như trong tâm - từ phía chân trời xa lắc lơ nào đó, hiện lên hình ảnh mẹ cha và đứa em thân yêu của nó.


Bọn tôi cùng anh Kim vượt qua một trái đồi trọc, mọc đầy những bụi cò ke và hoa sim tím. Đến một hẻm núi, con suối róc rách dưới chân, bên kia bờ có một chòi gác nằm vắt vẻo trên cháng ba của cây cầy đại thụ. “Giá mình được leo lên đó, thích nhỉ!” Chú bộ đội gác lại ngồi trên tảng đá dưới gốc cây nhìn chúng tôi đến. Anh Kim lội qua suối nói chuyện với chú bộ đội, đưa tay ngoắc hai đứa:


- Qua đây đi mấy em, gần tới rồi!


Bọn tôi chào chú bộ đội rồi nhanh chân chạy theo anh. Vào sâu trong hẻm núi một đoạn, anh Kim chỉ tay lên triền núi phía trước, tôi nhìn theo tay anh thấy thấp thoáng mấy gian nhà tranh, nhưng dưới chân núi, đá dựng đứng, cây rừng ken dày, kín mít không một lối đi. Quanh co thêm một lúc, khi những gian nhà tranh ẩn hiện bên trên, mé đường có một lối rẽ mòn, khúc khủy. anh nói: “Hai em lên đi, có người đợi ở đó!” Mặc dù đã chuẩn bị sẵn tinh thần nhưng tôi vẫn rất bất ngờ với thông tin anh Kim báo. Tôi như chơi vơi, như đang mơ:


- Anh nói…ba em chờ?


Hỏi xong tôi mừng đến nỗi trơ mắt nhìn anh, chẳng nói được tiếng cám ơn. Anh mỉm cười đi nhanh và khuất vào khúc quanh hẻm núi. Hai đứa men theo lối mòn leo lên. Mấy gian nhà tranh thấy đó mà đi hoài vẫn không tới. Tôi nôn nóng, muốn mình có được đôi cánh như con chim bay vù lên với ba, sà vào lòng: “Con nhớ ba quá, ba ơi!” Chặng đường dài lưu lạc giờ sắp kết thúc, ba đứng ngay cửa đợi tôi. Không! Ba cũng mong gặp tôi như tôi luôn nhớ ba. Người sẽ ra ngoài đầu triền núi đón thằng con út. Nghĩ thế nên tôi leo lên dù mệt bở hơi tai nhưng vẫn cố tình lẩn khuất vào những tán cây, bụi rậm. Thật bất ngờ ba nhé! Con sẽ “hù” ba từ phía sau lưng! Ngôi nhà hiện ra, sân là một vuông đất gập gềnh, lổm nhổm những tảng đá, những gốc cây. Bốn gian nhà tựa lưng vào vách núi. Mé trái gian chính có một người mặc đồ bộ đội, ngồi trên phiến đá giữa sân, nghiêng lưng về hướng bọn tôi. Thằng Riêng đi sau, nhéo vô hông, nói:


- Ba mày kìa!


Tôi ngồi thụp xuống dụi dụi mắt, đôi mắt đỏ hoe. “Ba ốm và lưng còng nhiều quá! Mấy năm rồi không gặp…” Tôi định đi thật nhẹ đến bên ba, ôm vòng vào người và nói: “Ba ơi! Thằng Hà em của ba nè!” Tôi dợm bước trèo lên bật đá, chợt người đó đứng dậy. Cánh tay phải để trần, băng trắng toát nơi bả vai: “ba bị thương?” Tôi đau nhói như có ai đè vào ngực. Chẳng thể chần chừ được, tôi nhảy tót lên mép sân. Riêng dừng lại bên gốc cây, dường như nó khóc. Nghe tiếng động, người đó quay lại:


- Các cháu tìm ai?


Tôi chưng hửng, ấp úng không nên lời:


- Dạ… Dạ cháu tìm ba…!

- Hai cháu đi nơi khác tìm thử xem, chú ở đây gần mười ngày rồi có thấy ai đâu, chỉ có vài đứa trẻ con…

Tôi chới với, lạnh ngắt cả người, đôi chân bủn rủn, trước mắt mọi cái như tối sầm lại, đôi tai lùng bùng, chợt có tiếng ai đó gọi như reo:


- Hà em đó phải không?


Như vừa tỉnh cơn mê, một bóng người từ trong nhà lao ra. Một đứa trẻ con trạc bằng tuổi tôi và Riêng. Tôi ngạc nhiên và bất ngờ quá đỗi:


- Đức…lỳ!


Đúng Đức lỳ thật rồi, chính nó chứ không thể là ai khác. Tôi lao tới, hai đứa ôm chầm lấy nhau:


- Sao cậu ở đây?

- Mình tới hôm qua.


Đức lỳ đưa tay chỉ Riêng vẫn còn đang đứng bên gốc cây:


- Ai đấy?


Tôi lại kéo tay Riêng đến bên Đức lỳ:


- Chuyện dài lắm, từ từ rồi kể - ba, anh Sơn mình đâu?

- Bác ở “cứ”!

- Sao lại…ở “cứ”, mà “cứ” là cái gì?

- Thì “cứ”…là “cứ” chứ còn cái gì nữa! Bác Ba được anh Thiệu báo là đã gặp cậu, bác sai mình đến đón - được chưa?


Nghe Đức lỳ nói tôi mừng rơn:


- Giờ về “cứ ba” đi!

- Hồi sáng thì thế, còn giờ không đi nữa. Ở đây “chơi” vài ngày! Anh Thiệu với mấy chú nói vậy.


Tôi rất nóng lòng gặp cha nhưng cũng đành phải nghe theo. Ba đứa kéo nhau ngồi xuống một tảng đá to dưới gốc cây giữa sân. Tôi kể nhảy cóc chuyện nọ xọ chuyện kia, bắt đầu từ dạo Đức lỳ quyết tâm đi trả thù. Khi đó bỗng dưng nó biến mất, chẳng ai biết đi đâu. Cở tuổi đó “sẫy nhà ra bơ vơ” nên mọi người đều cho rằng nó lưu lạc chốn nào, không biết sống chết ra sao với một thân trơ trọi, rồi cũng quên đi với những lo toan hằng ngày. Nhưng nó thì đi đường của nó, cứ nhắm hướng núi mà phăng lên. Đói no, ấm rét cũng một bận như tôi, nay ổn rồi. Nó gặp được cha, thế là cha đưa nó về ở chung với “anh nuôi” của đơn vị. Đức lỳ “quản lý” cả một đoạn suối, chuyên bắt ốc, cá, hái nấm, lặt rau nuôi quân đánh giặc, ban đêm còn được đi học nữa. Giờ trông nó lanh lợi, hoạt bát hẳn lên. Nó bảo: “Nếu chăm chỉ lao động và học tập sẽ được vô trường Thiếu sinh quân”. Nhưng xem ra chuyện học không khoái bằng bắt cá dưới suối, trường Thiếu sinh quân không hấp dẫn bằng được làm cậu bé liên lạc, được làm anh du kích, anh bộ đội! Tôi nhìn thấy mình chẳng bằng góc nó. Suốt ngày chỉ biết ham chơi: bắn chim, tắm mương… Thời gian lưu lạc có lớn lên đôi chút nhưng vẫn còn là trẻ con. Tôi biểu lộ sự khâm phục với nó, nó cười xè:


- Đã ở trên này ai mà chả vậy! Cậu mới cừ, chỉ với giàng ná thun mà dám bắn lòi mắt thằng “Việt gian” có súng!


Thằng Riêng nãy giờ ngồi bên cạnh lắng nghe tôi và Đức lỳ nói chuyện, nó góp lời:


- Tao cũng ghét “Việt gian” lắm! Nó kêu máy bay bắn xuống buôn làng tao… Tao sẽ trả thù cho cha mẹ và em tao, tao cũng trả thù dùm “thằng Ngọng” nữa.


Thế là ba đứa lại xoay quanh chuyện thằng Ngọng bị thương, chuyện thằng “Việt gian” tìm giết tôi:


- Gặp cậu chắc chắn nó giết!

- Trả thù mày bắn lòi mắt nó mà…

- Nó giết để giữ bí mật chuyện “Việt gian” của nó.


Tôi ngẫm nghĩ, chợt nhớ lời anh Thiệu: “Thằng Ngọng có thể bị nguy hiểm!” Tôi nhìn chằm chằm vào Riêng rồi lại quay sang Đức lỳ:


- Đúng rồi!

- Cái gì đúng?

- Không tìm được mình…

- Mày lên núi cao không tìm được đâu mà!


Tôi nói không kịp thở:


- Nó sẽ quay lại giết Ngọng!


Cả hai tròn mắt nhìn tôi, đồng thanh:


- Làm sao bây giờ?


Tôi ấp úng:


- Mình chưa biết!

Ba đứa lại ngồi bàn đến sự an nguy của Ngọng. Đức Lỳ đưa ra kế hoạch:


- Mình phục kích…bắt sống nó!

- Bắt cái củ khoai từ! Nó to con, lại có súng…


Thằng Riêng rụt rè:


- Tao bắn…sau lưng bằng nỏ!

- Khó lắm! Mình bị nó lùng thiếu điều đái trong quần…


Bàn tán râm ran nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Bỗng Riêng như phát hiện ra điều gì:


- Mình bắt nó…như săn heo rừng!


Bọn tôi ngạc nhiên, nó hào hứng nói tiếp:


- Mỗi người cầm vũ khí núp một góc, chính giữa lối đi đào cái hố, che lá rồi bỏ mồi lên trên…


Đức lì “xì” một tiếng rõ to:


- Khùng! Thằng “Việt gian” mà đào hố, bỏ mồi…nhử heo!


Riêng tiu nghỉu, ngồi dí dí ngón chân trên đất. Tôi vụt đứng dậy:


- Có mồi rồi!


Đức lỳ kéo tay tôi ngồi xuống:


- Mày lại khùng nữa!

- Cậu khùng thì có, mồi là thằng Ngọng!


Đức lỳ và Riêng chưng hửng, nhưng hai đứa chợt hiểu ra:


- Ừ, đúng đó! Sao không nghĩ ra hè, chắc chắn nó sẽ tìm đến Ngọng. Bọn mình phục kích ngay trạm xá.

- Chơi một trận…ngon lành!

- Cả ba đứa!

- Có vũ khí thứ thiệt.

- Tao nỏ!

- Tao có dao găm!

- Tao ná thun!


Thỏa thuận với nhau nhanh chóng, khí thế đang sôi sục tôi bỗng đâm lo:


- Nhưng…anh Thiệu dặn mình phải ở đây!


Đức lỳ…lỳ thế mà cũng bối rối. Nó có vẻ bực bội, đi đi lại lại quanh tảng đá. Thằng Riêng ngạc nhiên nhìn chúng tôi:


- Nhưng mình có đi luôn đâu mà!


Đức lỳ bồn chồn, thòng một câu thăm dò:


- Xong rồi về lại đây, đừng cho anh Thiệu biết!


Tôi hơi ngần ngừ, nhưng nghĩ đến Ngọng vừa thoát chết lại sắp gặp nguy hiểm và, căm thù thằng “Việt gian” đến xương tủy, tôi đáp luôn:


- Y chang! Tụi mình giả đò đi bắn chim, “khử” nó xong, tối về ai mà biết!


Phương án được đưa ra, cả ba nhất trí: Tên “Việt gian” biết mặt tôi nên không được ra mặt, phải thường xuyên núp trong bụi rậm gần trạm xá, Đức lỳ cũng không ló mặt vì sợ anh Thiệu thấy. Còn Thằng Riêng, do cả bọn cho rằng anh Thiệu không nhớ mặt, hơn nữa nó đã biết tên Nam nên được đi thăm dò công khai. Nói là làm, ba đứa nhanh chóng xuống núi. Đức lỳ chạy nhanh vào nhà, chớp mắt đã phóng ra với cái túi vải mang trên vai, hông đeo lủng lẳng lưỡi lê có bao hẳn hoi, trông oai ra phết. Nó móc từ trong bị ra một nắm khoai lang dai (khoai lang nấu chín xắt lát phơi khô làm lương thực) chia cho tôi và Riêng ăn đi đường.


Vùng này Đức lỳ là Thổ địa. Ngóc ngách rừng, suối nào mà không in dấu chân nó. Nó dẫn hai đứa lội qua mấy con suối cạn đi đường tắt đến trạm xá. Mỗi lần qua suối tôi đều mò tìm những hòn sạn, lớn hơn ngón tay cái nhét đầy hai bọc túi áo. Những hòn sạn tròn trịa, trắng đục lạo sạo trong ngực, reo lên theo từng bước nhảy. Tôi kiểm soát lại giàng ná thun – đều an toàn. Trận đánh sắp tới không còn đơn giản là trò chơi trẻ con nữa. Quả thật, giờ không còn là trò chơi đánh giặc giả như thuở nào. Không còn hể cứ thua là giơ tay đầu hàng rồi rủ nhau nhảy ùm xuống mương tắm một trận, hoặc bị “địch” bắn đau…có đứa khóc ré lên chạy về méc mẹ! Lần này nếu có sơ sẩy điều gì là chết như chơi. Ba đứa ngu ngơ, ăn chưa no, lo chưa tới, làm sao đối đầu được với con sói nham hiểm, độc ác – tên “Việt gian” đầy thủ đoạn điên khùng.


Băng qua một cum rừng nhỏ, Đức lỳ đi chậm lại:


- Sắp tới rồi!


Thằng Riêng hào hứng xốc lại gùi lương thực trên vai, tay mân mê cây nỏ. Nghĩ đến những chuyện sắp xảy ra đôi chân tôi tự nhiên bủn rủn, mồ hôi tươm ướt trán: - Sợ chăng ? Tôi phân vân tự hỏi như vậy. Vâng, tôi sợ chết! Tôi không phải nhát gan nhưng thật sự tôi sợ nếu chết đi sẽ không còn gì cả - sẽ không bao giờ được gặp ba, không được nhìn mặt anh Sơn và nghe anh kể về những trận đánh, về chuyện “ôm đùm ruột” bơi qua sông. Chỉ rán thêm vài ngày nữa thôi. Ba với anh đang đợi tôi ở “cứ”… Rồi sẽ không thấy mặt chị Hai, anh Hà, không được nằm vào lòng, hít mùi chua nồng nhưng thơm ấm của mẹ. Rồi muôn đời không còn thấy nhỏ Vân nữa. Rồi còn thằng Ngọng, Đức lỳ, Riêng… Càng nghĩ, tôi thấy bước chân mình như chậm hơn, tay chân lạnh toát. Thằng Riêng dừng lại đợi, thấy bộ dạng tôi, nó hỏi:


- Mày bị đói bụng à?


Đức lỳ quay lui, đưa tay sờ lên trán:


- Có thể kiệt sức hoặc trúng gió.


Nói xong nó mở miệng túi vải, lôi ra một cái chai nhỏ, lớn hơn ngón chân cái. Bên trong còn lưng nữa chai nước màu vàng, đặc sánh, nói:


- Mật ong đấy! Mày ngậm một tí là khỏe ra ngay.


Tôi lúng túng đưa tay đẩy lui:


- Không, mình không mệt!


Riêng bỏ gùi xuống móc ra mấy củ mỳ, đưa mỗi đứa một củ:


- Ăn đi! Ăn no rồi đánh giặc!


Ba đứa ngồi xuống vệt cỏ bên đường mòn gần bìa rừng. Mặt trời đã ngã về tây, những tia nắng không còn mạnh mẽ, nó yếu ớt, hiền lành. Hơi sương từ cỏ cây tỏa ra lành lạnh, tôi nhẹ kéo cổ áo lên, co vai lại nhìn Riêng và Đức lỳ:


- Trời về chiều nhanh quá! Không chừng nhá nhem chẳng thấy đường…mà đi.

- Bây giờ lơ mơ một tí là hỏng như chơi.

- Tao thề với Giàng sẽ bắn thằng “Việt gian” để trả thù cho Ngọng, cho cha mẹ với buôn làng tao.

- Nhất định rồi! Cả nhà tao chết vì giặc, tao đâm lưỡi lê này vào ngay tim nó.


Miệng đắng nghét, đầu hơi váng nhưng nghe hai đứa bạn quyết tâm chắc cú, dứt khoát khiến mặt tôi nóng bừng. Lòng tôi vẫn thấy như in hình ảnh bác Trong cõng mẹ chết cháy thê thảm trên hiên nhà, làng xóm cháy tan hoang. Những xác người trôi trên mương dẫn thủy trương phình, tôi nhớ hình ảnh Ngọng bị bóp cổ, đôi chân choài đạp lên đất, hai tay cào cào trong không khí…



Đức lỳ nhét lại chai mật ong vào túi vải, rút ra một tờ giấy gấp tư, chìa sang tôi nói như reo:


- Hà em ơi! Quên mất, cậu có thư của bác ba!


Tôi sung sướng hét lên, nhào tới ôm chầm lấy Đức lỳ, chộp nhanh tờ giấy từ tay nó. Không thể diễn tả nổi vui sướng của tôi lúc này đâu; nó chạy rần rần khắp cả người, nó lâng lâng tưởng như mọi cái chung quanh tan nhòa, biến mất. Tôi chưa vội đọc, áp lá thư vào ngực để nghe niềm sung sướng trào dâng. Chợt có mấy tiếng súng nổ nghe gần lắm. Đức lỳ chạy ra bìa rừng rồi phán đoán:


- Nổ từ hướng trạm xá, có chuyện rồi!


Tôi nhét vội lá thư của ba vào túi áo đựng đầy đạn sỏi, cài khuy nút cẩn thận rồi bước nhanh ra bìa rừng. Thằng Riêng đưa mắt nhìn bọn tôi như muốn nói: “Chạy tới đó thôi!” Đức lỳ lao ra trảng rừng thưa xen lẫn đồi cỏ tranh. Vừa chạy vừa gọi:


- Chạy tới trạm xá anh em ơi! Nó bắn thằng Ngọng rồi!


Tôi vụt theo. Thằng Riêng cầm nỏ phóng lên trước. Ba đứa cắm cổ chạy về hướng trạm xá. Chạy một đoạn tôi la lớn:


- Chạy tảng ra! Chạy tảng ra!

- Sao lại tảng?


Tôi nhớ hồi chơi giặc giả, mỗi lần rượt đuổi “địch” không ai lại chạy dồn đống mà đuổi – nó “câu” lại một cục đất, trật thằng này cũng trúng đứa kia. Nghĩ thế nên gào tiếp:


- Lỡ thằng Việt gian bỏ chạy lên đây gặp bọn mình…


Đức lỳ…nổi máu lỳ:

- Chắc gì nó…chạy hướng này!

- Nó chạy cũng điên như con heo rừng bị rượt thôi, không biết được đâu mà!



Tôi tạt qua mé trái, Riêng thấy thế tách về bên phải, Đức lỳ ở giữa, cứ thế mà chạy trên đồi cỏ tranh. Nắng chiều vàng rực, gió lao xao làm gợn sóng cỏ tranh như đồng lúa quê nhà. Ba đứa mãi miết chạy. Tôi và Riêng chạy hai bên tuy ít tranh nhưng những bụi cây lùm bùm lại vướn lối. Đức lỳ bị tranh che tới ngực, nó cứ lúp xúp giữa đồi tranh mênh mông. Đang chạy loằng ngoằn với những lùm cây vướn lối, tôi quay nhìn ngang, chẳng thấy Đức lỳ đâu, nhìn lui không có. Bên kia bóng dáng Riêng cũng biến đâu mất. Tôi đâm chột dạ: Rơi hố bẫy hay…bị trăn quấn, cọp vồ? Toan lên tiếng gọi thì thấy trên đồi cỏ tranh nơi Đức lỳ vừa chạy, từng mảng tranh rạp xuống, bóng người lồm cồm, nhấp nhô. Tôi khủng khiếp thét: “Trời ơi! Trăn quấn Đức lỳ rồi...!”

Chẳng còn nghĩ được điều gì, tôi lao tới chỗ Đức, tiếng ú ớ, tiếng quẫy xuống đất thình thịch. Chưa rõ ra sao nhưng chắc chắn Đức đang bị nạn. Tôi mò tìm khúc cây hoặc hòn đá cầm tay nhưng chẳng có gì. Hoảng quá tôi khóc thét lên: “Đức ơi! Riêng ơi!” Tiếng ú ớ, tiếng vật lộn rõ lên rồi bỗng dưng im bặt! Im lặng đến ghê rợn. Tôi đứng chết điếng, tê dại cả người. Chợt từ chỗ Đức lỳ bị nạn vụt đứng lên một con người. Nếu là con trăn hay một con cọp chồm tới có lẽ tôi ít kinh ngạc hơn. Tôi đứng sững như trời trồng, bóng người cao lớn tiến nhanh tới, nó cầm trên tay lưỡi lê sáng loáng của Đức lỳ, nơi kẽ rảnh lưỡi lê còn đỏ lòm máu tươi. Tôi chỉ thốt lên được một tiếng: “Nam!” - Đúng nó là thằng “Việt gian” với khuôn mặt đằng đằng sát khí, tôi bất kể hiểm nguy lao thẳng vào nó, ôm chặt cánh tay cầm lưỡi lê, dùng hết sức cắn thật mạnh. Nó rít lên:


- Thằng chó chết, tao sẽ bằm nát mày ra.


Nó dùng bàn tay còn lại đấm thẳng vào đầu, tôi văng ra ngã dúi xuống đám cỏ tranh. Thằng Nam xoa xoa cổ tay vừa bị cắn, tiến về phía tôi, lưỡi lê ngúc ngoắc đùa giỡn như con mèo đang vờn chuột. Nó cười gằn thật ác độc và ghê tởm! Tôi gượng ngồi thật nhanh tuy nơi đầu còn choáng váng. Chụp giàng ná thun đang đeo nơi cổ - không kịp nữa rồi! Nó đưa lưỡi lê đâm thẳng vào ngực tôi. Quả thật khi nghĩ, người ta có thể nghĩ được nhiều thứ trong một khoảnh khắc, nhưng lúc này đây tôi chẳng nghĩ được gì. Tôi chỉ thấy máu của Đức loang trên lưỡi lê, chỉ thế thôi. Tôi nhìn trừng trừng vào nó không hề sợ hãi. Mũi lê nhọn và sáng quắc phóng xẹt đến bỗng khựng lại một tẹo. Thằng Nam hơi nẫy người ra sau nhưng bàn tay cầm lưỡi lê vẫn đâm tới, tôi thấy đau nhói nơi ngực. Thế là mày chết thật rồi Hà em ơi! Mà thật kỳ lạ, lúc này thì những hình ảnh lại xuất hiện trong tôi. Này là ba, ba đang vẫy tay đón tôi. Còn mẹ, anh Hà, chị Hai… Rồi anh Sơn nữa, anh đang bơi trên sông, nhỏ Vân mặt mày tái méc đứng khóc… Rồi thằng Ngọng, thằng Riêng, Đức lỳ… Nó đâm một cái chí mạng vào ngực tôi mà chừng như vẫn chưa đã, nó lại bồi thêm nhát nữa ngay nơi nó vừa đâm, nó muốn giết đến hai lần! Mũi lê theo sức đâm “phập” vô ngực đau nhói. Lại một luồng gì đó nong nóng chạy dài xuống bụng. Thằng Riêng không biết từ đâu xuất hiện đột ngột sau lưng tên Việt gian, nó giáng một cú bổ bằng bán nỏ xuống đầu tên Nam, thằng Việt gian buông lê lảo đảo, tôi chụp lấy lưỡi lê thọc vào bụng nó đến tận cán. Một dòng máu phọt ra đỏ lòm cả tay, tôi rùng mình để nguyên lưỡi lê trên người nó, tái mặt luống cuống thụt lui, chùi lia lịa bàn tay dính đầy máu vào đũng quần. Sực nhớ đến Đức lỳ, tôi lao đến chỗ nó, nó nằm im lìm bên bãi cỏ tranh bị giày nát. Mặt mày bầm tím, máu thấm đẫm chiếc áo sơ mi sờn rách, tuột hết khuy: “Nó chết rồi sao?” Tôi đưa tay sờ lên mũi, không nghe động tĩnh gì. Tôi cúi xuống áp tai vào ngực, tiếng đập thoi thóp, đứt quãng. Tôi hét toán lên: “ Đức lỳ còn sống Riêng ơi!” Tên Việt gian bị Riêng đập bán nỏ ngay đỉnh đầu, tôi lụi một lê vô bụng khiến nó nằm quay lơ, dang tay víu nạm cỏ tranh, trên lưng còn thòi lòi phần đuôi mũi tên dựng đứng lên trời, tôi ngạc nhiên quay sang Riêng:


- Sao lại có mũi tên ở đây?


- Tao bắn khi nó…sắp đâm mày.


Nói rồi thằng Riêng kể lại sự viêc mà nó trông thấy: Khi tôi còn đang vướn víu với mấy lùm cây, nó phát hiện một bóng người chạy lom khom phía chân đồi tranh, kêu nhưng cả hai đứa đều không nghe, nó ngồi xuống kéo dây nỏ lắp tên nhưng loay hoay thế nào mà căng mãi dây nỏ vẫn cứ tuột. Lúc lắp được tên vào thì mất tiêu bóng người đang chạy lên đồi. Nó nhìn thấy tôi, định kêu thì bất ngờ tên “Nam” đứng bật dậy, thằng Riêng nói tiếp:


- Tao luồng dưới cỏ tranh đến sau lưng và “phựt” mũi tên cắm gần lút nửa.


Ngay lúc đó, từ dưới đồi có mấy người chạy lên. Tôi nhận ra trong đó có anh Thiệu và anh Kim. Tôi vẫy tay gọi rối rít, mọi người chạy xô đến. Anh Thiệu hỏi qua mọi việc rồi cho khiêng Đức lỳ và tên Nam về trạm xá. Anh Kim cầm súng đi phía sau. Đang đi, tôi thấy mọi người như chao đảo, đất trời bỗng tối sầm lại và dường như có ai đó gọi í ới tên tôi.


PHÂN CUỐI.


Mặt trời sớm mai trên rừng đồi thật đẹp. Nắng vàng tươi, hiền hòa trải rộng những đồi xa. Đây đó, vài khe sâu còn cựa mình chưa muốn dậy. Hơi sương loãng dần, đọng lại và rồi co lên trên đầu ngọn cỏ như những hạt ngọc lung linh. Tôi ngồi dưới gốc cây giữa sân trạm xá từ lúc những chú chim non háu đói đòi mẹ cho ăn, kêu ỏm tỏi sau một đêm đẫy giấc. Tôi ngất đi không lâu. Có lẽ do đói và khát, do kiệt sức vì suy nhược nhiều hơn là do hai vết đâm vào ngực. Mọi người cho rằng tôi…có phúc ba đời! Mà cũng phải công nhận một điều: Hai lần đâm “chí mạng” của thằng Việt gian vào ngay ngực, vào ngay một điểm nơi có quả tim, nơi hằng cất giữ những ảnh hình thân yêu nhất trong tôi. Cái túi áo “bộ đội” được lèn đầy những viên sỏi, được gài nút cẩn thận và đã trở thành tấm giáp chở che, nên mũi lê căm thù của nó bị chặn lại, vừa đủ rạch một đường nông, không xuyên qua lồng ngực. Hơn nữa, mũi tên ghim vào lưng và cú đập ngay đỉnh đầu tên “Việt gian” của thằng Riêng thật kịp lúc cũng góp phần rất lớn để giành lấy mạng sống của tôi. Lá thư ba gửi được tôi cất vào túi bị lưỡi lê đâm qua. Chính lá thư đã cản mũi lê nhọn hoắc - chính ba đã gì chặt lấy cái vật nhọn chết người để cứu đứa con trai út phải không ba? Lá thư ướt đẩm máu không đọc được nhưng con đoán biết ba viết gì cho con rồi ba ạ! - Thật nhiều những lời yêu thương, thật nhiều những mong nhớ! Con còn biết cả việc má tìm được anh Hà, và đang ở nhà bác Thi dưới Tuy Hòa. Rồi anh Sơn vừa mới xuất viện xong liền xung phong tham gia chiến đấu. Chị Hai nữa chứ! Chị chạy tít mù lên Phú Bổn… Công nhận ba “cừ” thật đấy! Ba ở trên này mà biết hết mọi việc xảy ra của gia đình mình (những điều này anh Thiệu kể lại con đấy ba ạ!). Tôi miên man suy nghĩ, bồn chồn mong ngày chóng qua, mong sức khỏe mau bình phục. Không thể gặp ba trong tư thế ốm xanh và vết thương nơi ngực như thế này, ba nhỉ? Anh Thiệu bảo: “Ba đi công tác về sẽ qua đây đón con, Đức lỳ và cả thằng Riêng nữa – thích quá ba ạ. À! Còn chuyện thằng Đức lỳ mới tức cười làm sao – khi đó nó chỉ chăm bẳm đi cho nhanh đến trạm xá nên không phát hiện thằng Việt gian. Tên Nam chỉ cần luồn dưới cỏ tranh là tóm gọn cậu ta ngay. May mà nó không thấy con và thằng Riêng. Đức lỳ bị một vết đâm vào vai, nhưng nó ngất là do “thằng kia” bóp cổ! Giờ đỡ nhiều rồi. Còn thằng Ngọng, lẽ ra giờ nó có thể ngồi dậy hoặc đi dạo vài bước như lời cô y sĩ nói, nhưng nó không thể làm điều ấy được. nó nằm bẹp dí là do nó bị thương thêm lần nữa. Số là thế này: Các anh bàn nhau đưa ra phương án “kiểm tra cuối cùng” thằng Nam - nó là ai? Và tóm tại trận để tâm phục, khẩu phục! Anh Kim cùng anh Thiệu phục kích thật kỹ. Tên Nam vào trạm xá. Lúc đó trạm vắng nhưng cũng có vài bệnh nhân nằm gần Ngọng nhưng họ không biết “màn kịch” diễn ra. Thằng Việt gian đến quầy xin thuốc uống và rửa mắt xong nó đi ngang qua giường Ngọng nằm, đánh rơi những viên thuốc xuống sàn nhà trạm xá, rơi cả trên giường Ngọng. Nó loay hoay nhặt từng viên thuốc bé tí. Một tay nhặt thuốc một tay kín đáo kéo chéo mền ép chặt mũi và miệng Ngọng. Tội nghiệp thằng Ngọng, nó có biết gì đâu, đang nằm ngủ lơ mơ tự nhiên ngột không thở được. Đằng này anh Thiệu và anh Kim căng mắt nhìn vẫn không thấy có hành động gì khác lạ. Đến khi thằng Ngọng choài, quẫy, mặt mày tím tái, hai anh phóng ra, tên Nam biết bại lộ nên vụt chạy. Anh Thiệu bắn mấy phát đạn cảnh cáo nhưng thằng Việt gian lủi mất tiêu! Giờ thì nó được “chuyển” lên bệnh viện cấp cứu rồi ba ạ. Nghe nói cấp trên cần nó sống để hỏi cung gì đó, con chả biết. Nhưng theo con “đòm” một phát cho xong đời bọn Việt gian!

Mặt trời lên khá cao, thằng Riêng đi đâu đó về, một tay cầm nỏ tay kia xách con gà rừng béo núc, nặng trì cả đôi vai vốn còm nhom của nó. Riêng cười thật hồn nhiên:


- Mỗi ngày tao sẽ đem về một con gà rừng cho mọi người cùng ăn.

- Vài hôm nữa ba đến, bạn cùng đi với mình và Đức lên chỗ ba nha!

- Tao đi, nhưng phải về nói với cái nhà tao đã. Sáng mai về rồi lại lên đây với mày!


Hai đứa dắt nhau vào trạm thăm Ngọng và Đức lỳ. Anh Thiệu đến báo một tin vui: “Bọn em rất dũng cảm vây bắt tên Việt gian. Các bác, các chú sắp xuống thăm và sẽ có quà cho từng đứa” Anh quay sang tôi cười tủm tỉm: “Ba em cũng tới, có cả…thằng Sơn sếu vườn nữa, Hà em ạ!” Tôi bất giác đứng thẳng người, đưa mắt nhìn Riêng, Ngọng, Đức lỳ. Cánh mũi phập phồng ửng đỏ. Ngoài kia, trên ngọn cây chú chim non chấp chới bay theo mẹ dưới ánh nắng rực rỡ sớm mai.



PHẠM TÚ UYÊN

HẾT

ONLINE_USERS_TOTAL_GUESTS (Thông tin cập nhật mỗi 5 phút)
Kỷ lục online cùng lúc là 122 người, vào ngày 06 Tháng 3 2017, 10:06

Đang xem chuyên mục này: 10 khách