"BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG" HƯƠNG THƠM LAN TỎA

Các điều hành viên: Bằng Lăng, Bằng Lăng, Bằng Lăng, Bằng Lăng, Bằng Lăng

"BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG"
.HƯƠNG THƠM LAN TỎA
Cảm nhận sau khi đọc tác phẩm
Biển Đảo Quê Hương.
Lê Sĩ Cúc


Tập thơ "Biển đảo quê hương" của Forum Việt Nam thi đàn ra đời đã đáp ứng được sự mong chờ của độc giả. Tác phẩm có sự đóng góp của nhiều thi sĩ trong thi đàn dưới sự điều hành của chủ nhiệm Phan Văn Nhớ đã thành công rực rỡ. Tập thơ đã phản ánh trung thực sinh động sự xâm lược tàn bạo của bọn bành trướng phương Bắc. Tập thơ đã nêu bật nghệ thuật chiến tranh của ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần chiến đấu quật cường của quân dân ta. Tình cảm của những người con ở hậu phương với biển đảo. Bằng bút pháp nghệ thuật riêng của mình, các thi sĩ đã làm cho tác phẩm hay hơn, đẹp hơn, sinh động hơn, cuốn hút người đọc. Mở đầu tập thơ, nữ thi sĩ Bảo Minh Trang đã khẳng định rằng:
"Non sông vốn đã định yên
Từ xưa đã thuộc chủ quyền người Nam

Bắc Phương bạo nghịch tham tàn

Bao lần ỷ mạnh ngoại xâm nước mình."

(Khẳng định chủ quyền. Bảo Minh Trang. Huyền tôn nữ Như Mai - Đồng Nai Tr 9)

Thi sĩ Sơn Phương Tây Ninh đã khẳng định một cách chắc chắn và quyết tâm giữ lấy được mảnh đất đảo biển của cha ông bằng lời thơ rắn rỏi:
"Quyết một lời đinh ninh

Nước non này vĩnh viễn

Chủ quyền ta trên biển

Đừng ai mong tranh giành"

(Đêm nghe lời biển - Nguyễn Sơn Phương Tr 16)

Tiếp đến là thi sĩ Phạm Ngọc Vĩnh:Tất cả những gì trời định sẵn mà cha ông ta đã đổ mồ hôi sôi nước mắt tạo dựng nên là của ta, của con cháu ta, là đất hương hỏa cha ông để lại phải là của ta. Nó đã thuộc về chân lý:
"Biển quê hương vẫn biển của ngàn đời
Đảo quê hương vẫn sáng ngời chân lý"

(Nói với biển - Phạm Ngọc Vĩnh Tr 90)

Lão thi sĩ Huy Dung lại có một cái nhìn độc đáo và khẳng định bằng những câu thơ mộc mạc chân tình: Biển là quê hương ắt phải trở về với đất mẹ quê hương:
"Ơi! Biển đông
Sóng dội
Quê hương về với quê hương

Yêu thương về với yêu thương nồng nàn"

Ý thơ và nghệ thuật thơ hay thật. Cảm ơn thi sĩ.
(Tâm thức biển - Huy Dung tr 49)
Ta không thể nào quên được một nhà thơ ở núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, nhiều thác bạc lấp lánh quanh năm, nơi có bạt ngàn rừng cà phê đang làm giàu cho Tổ Quốc. Thi sĩ Hồng Lĩnh thì rành mạch nói có sách mách có chứng, cụ thể rõ ràng:
"Bao sử liệu đã rõ ràng rành mạch
Mảnh đất này là của chúng ta
Hoàng Sa với cả Trường Sa

Chủ quyền biển đảo đúng là Việt Nam"
(Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam - Hồng Lĩnh Đắk Lắk tr 44)

Đặng Duy Phiên người con của Hà Nội đã nói hộ lòng tôi vài ý nguyện của biết bao người. Thi sĩ đã đưa ra vật chứng cụ thể để chứng minh, ắt sẽ làm bọn Tàu gian cứng lưỡi:
"Cột mốc chủ quyền Trường Sa

Vững vàng đứng giữa phong ba biển trời

Là nhân chứng giửa trùng khơi

Chủ quyền lãnh thổ muôn đời Việt Nam"

(Cột mốc chủ quyền Trường Sa - Đặng Duy Phiên tr 29)

Lập luận khẳng định chủ quyền của bảy thi sĩ trên khá chặt chẽ, vững vàng, lý lẽ thuyết phục. Một lần nữa đã làm cứng họng bọn Tàu xâm lược. Bài thơ "Nói với anh" của tác giả TRUNG NIÊN Phan Văn Nhớ đã vạch trần một cách cụ thể các bước xâm lược của bọn giặc Trung Hoa:
"Đầu tiên anh vẽ lưỡi bò

Rồi anh lên tiếng thăm dò gần xa"

Để lừa phịnh bịp bợm nhân loại: Nào là:
"... Không thích chiến tranh"
Nào là chỉ "Trỗi dậy hòa bình"

Rồi "Chiếm dần các đảo" của ta...
Cuối cùng lập đường băng đưa máy bay tàu chiến ra các đảo lấn chiến. Đó là "Trỗi dậy hòa bình"của bọn Trung Hoa hiện đại. Trước âm mưu đó ta phải làm gi ? Trong bài thơ "Bài ca giữ nước" bằng thể thơ tự do, TRUNG TRUNG NIÊN Phan Củ Chi Phan Văn Nhớ cho biết nghệ thuật đấu tranh của ta. Đó là phải bám biển. Phan Củ Chi đã nói rõ trong "Bài ca giữ nước":
"Ra khơi
Ta quyết ra khơi
Mang về hải sản nguyên tươi cho bờ”

Mặc cho "Sóng to mưa bão bất ngờ
Tàu ta vẫn lướt
Màu cờ vẫn bay"
Đó là sách lược hay của ta: Vừa giữ biển, vừa ngăn giặc, vừa thu hoạch hải sản. Biển là biển của ta. Trời đất này cũng của ta. Có gì mà e sợ. Thi sĩ Thi Nang Thành Phố Hồ Chí Minh viết:
"Dù nhiều sóng gió không e biển

Dẫu lắm chông gái chẳng ngại đường"

( Tiễn bước anh đi - Thi Nang thành phố Hồ Chí Minh tr 136 )

Có được 3260 km bờ biển từ Bắc vào Nam với khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải dễ dàng mà có. Thiên nhiên ưu ái đã đành nhưng mồ hôi nước mắt và cả máu nữa của cha ông ta đổ xuống không phải là ít. Bằng bất cứ giá nào ta phải bảo vệ bằng được và phải ra công tôn tạo, không để cho kẻ thù xâm lấn dù một tấc đất tấc biển. Thi sĩ Nguyễn Tiến Dũng đã viết:
"Dù bao gian khổ dãi dầu
Biển trời Tổ quốc ngàn sau giữ gìn
Ông cha gửi gắm niềm tin
Để cho con cháu mấy nghìn năm sau"

(Tổ quốc ngoài biển khơi - Nguyễn Tiến Dũng - Lào Cai tr 72)
Biển là của ta nên ta phải bảo vệ ngăn chặn kẻ thù xâm lược. Đây là một sự chạm trán quyết liệt ngoài biển khơi. Địch thì:
"Mang tàu chiến, tàu kiểm ngư ra đánh cá

Sang biển quê hương bủa vây đâm người phá

Cướp giữa ban ngày còn to miệng kêu oan"

Nữ thi sĩ Phạm Hải Yên Đồng Nai đã vạch trần thủ đoạn ăn cướp của bọn Tàu như vậy (tr 83). Nữ thi sĩ còn kêu gọi ngư dân và chiến sĩ kiểm ngư ta:
"Đoàn kết lại đi, quyết bảo vệ giang sơn

Mỗi tấc đất, mỗi tấc biển cũng không thể cho bọn tàu đóng chiếm”

(Hướng về biển đảo quê hương. Phạm Hải Yến Đồng nai tr 83).
Đồng lòng nhất trí với thi sĩ Phạm Hải Yến. Nhà thơ TRUNG TRUNG NIÊN Phan Củ Chi Phan Văn Nhớ viết:
"Cộng khổ, đồng cam

Xương tan thịt nát chẳng làm lung lay

Buồm căng
Cờ đỏ tung bay
Hướng về nơi giặc cướp ngày Xông lên!"
Nếu bọn tàu nổ súng trắng trợn cướp biển đảo ta thì ta phải sẵn sàng nghênh chiến, ý chí quyết tâm, tinh thần không nao núng. Thi sĩ Cao Nghiêm, một cán bộ quân đội quân đoàn 7, một thành viên của Việt Nam Thi Đàn viết:
"Lòng chúng con vững như bàn thạch
Chí chúng con đã nung từ thưở lọt lòng"

"Quyết không hổ thẹn với truyền thống cha ông

Giặc đến nhà dẫu thịt nát xương tan cũng đánh"
Thi sĩ Cao Nghiêm khẳng định lại một lần nữa:
"Dẫu cho chúng có vừa đông vừa mạnh

Thì chúng con cũng sẽ vùi xác chúng dưới biển đông"

(Xin hãy yên lòng mẹ - Tổ quốc ơi. Cao Nghiêm. Cao Văn Nghiêm- Quân đoàn bốn)
Lời thơ của thi sĩ Cao Nghiêm thật hào hùng. Đọc lên nghe sảng khoái vô cùng, như tiếng sáo diều lơ lửng trên không bầu trời quê mẹ. Cảm ơn thi sĩ Cao Nghiêm. Đặng Duy Phiên người con của Hà Nội. Nghe tin các chiến sĩ ta hy sinh trên đảo Gạc Ma.Anh đã đứng dậy cúi minh tưởng niệm. Con tim anh xót đau. Dạ của anh sôi sục căm thù bọn Trung Quốc tàn bạo. Đôi mắt anh nhòa lệ. Anh kêu lên: Các anh, các bạn, các em tôi đã hy sinh vì Tổ quốc Việt Nam rồi. Anh viết:
"Tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma
Mắt lệ sa
Tim rỏ máu
Lòng căm thù nung nấu Dạ sục sôi"
Thi sĩ coi sự hy sinh đó là "Một trang bi hùng, một khúc tráng ca" (Khúc tráng ca - Đặng Duy Phiên Hà Nội tr 31). Tôi cũng có biết sơ sơ Trần Gạc Ma: Trận ấy ta bị lính Trung Quốc tập kích bất ngờ nên hy sinh nhiều lắm. Nói đến sự hy sinh thì lòng ta xúc động đau xót vô cùng. Thi sĩ Lê Tuần cho biết đó là một vòng tròn máu. Thành lũy là chiến hào bằng xương thịt bao quanh. Xót thương quá các bạn ạ! Bọn Trung Quốc dã man quá! Trời sẽ không dung, đất không tha. Các bạn hãy lặng im một phút, con tim hãy hướng về Gạc Ma để tưởng nhớ các anh - người liệt sĩ oai hùng. Thi sĩ Lê Tuấn viết:
"Mười bốn tháng ba Gạc Ma Vòng tròn máu
Đồng đội tôi chiến đấu

Thành lũy chiến hào là xương thịt bọc bao quanh"

(Vòng tròn bất tử - Lê Tuấn Nguyễn Tiến Ban tr 55).

Đoàn Duy Hiển đã mạnh mẽ vạch trần bộ mặt thật giả tạo của bọn bành trướng Bắc Kinh nào là :đường tơ lụa" nào là "đường lưỡi bò" để mưu toan ăn cướp. Tất cả những luận điệu ấy đã bị Tòa án Quốc tế bác bỏ. Thi sĩ viết:
"Chiếc búa phân xử Biển Đông
Giơ lên đập xuống đầu ông bá bành"

Đồng thời thi sĩ cũng cảnh báo rằng:
"Mặt thì hữu hảo vui cười
Thực ra trong bụng quá trời lưỡi dao"

Ta đã cảnh giác rồi, cần cảnh giác hơn nữa:
"Nên mình cảnh giác rất cao"
(Sự thật và công lý - Đoàn Duy Hiển - Bắc Giang tr 34)
Hiền Nguyễn, thi sĩ của núi rừng Đắk Lắk đã viết những câu thơ xúc động lòng người. Hiền Nguyễn ơi! Khánh Hiền ơi! Xót lắm em ơi! Câu thơ em viết làm tôi nao lòng. Thi sĩ viết:
"Anh có nghe tiếng nguyện cầu của mẹ

Tiếng gọi ba của con trẻ đến nao lòng

Anh hãy về cả nước vẫn đang mong

Bao đồng đội cũng ngày đêm không ngủ"

Thi sĩ đã phác họa hình ảnh ngươi vợ đầu chiếc khăn tang, tay cầm nén nhang ngang đầu thầm thì cầu nguyện:
"Xin hãy trở về nhé... Anh ơi!

Về với mẹ cha từng ngày mong ngóng

Về ôm ấp đứa con thơ bé bỏng

Về với vợ hiền nên nghĩa trầu cau"

(Vọng tiếng yêu thương - Hiền Nguyễn - Nguyễn Thị Khánh Hiền - Đắk Lắk tr 38)


Hải Yến ơi! Tay anh run run cầm bút viết. Đôi mắt anh nhòa lệ rưng rưng. Tâm hồn anh xao xuyến khôn cùng. Mong manh tin biết chồng mình hi sinh ngoái chiến trận. Nhưng nàng vẫn mong, vẫn ngóng, đợi, chờ tia hi vọng cuối cùng có le lói hay không ? Đợi hoài mà không thấy, nàng đã thốt lên:
"Về đi thôi, em ở nhà đang đợi

Anh có nghe không tiếng con mình khản gọi"

Vì quá xót thương chông nên nàng đã kêu to:
"Giữa thời bình, sao anh bỏ em đi

Mấy ngày nay, mẹ lệ đẫm ướt mi
Khóc thương anh cứ ôm ghì di ảnh

Trái tim em cũng nát tan từng mảnh

Đau xé lòng vẫn mỏi ngóng tin xa"
(Về đi anh - Phạm Hải Yến - Phạm Thị Anh - Đồng Nai tr 84)
Lời thơ giản dị chân tình, câu thơ tám chữ, câu nọ tiếp câu kia dạt vào tình cảm. Vẫn bằng vẫn trắc hợp lý tạo nên nhạc tĩnh êm nhẹ trầm bổng, phù hợp với nội dung thơ đã làm lay động lòng người, làm cho con tim ta xúc dộng lạ kì. Rất cảm ơn nữ thi sĩ Hải yến Đồng Nai. Bất cứ liệt sĩ nào hy sinh ở trận địa nào cũng được gọi là bất tử. Và tất cả được ghi vào trang sử. Tên các anh mãi mãi trường tồn cùng sông núi quê hương. Đặc iệt là 64 chiến sĩ hy sinh trên đảo Gạc Ma. Thi sĩ Nguyễn Văn Thái viết:
"Sáu tư chiến sĩ đã hóa thành bất tử
Dòng máu hồng hòa mặn sóng biển khơi

Tên các anh thanh ngát tuổi xuân ngời

Hồn các anh trường tồn cùng sông núi"
(Bất tử - Nguyễn Văn Thái - Nam Định - Tr 77)
Xuân Đinh Dậu đến đầu làng
Đất liền gửi tặng những chàng trai xinh
Đang canh giữ biển trời Tổ quốc
Những vần thơ lai láng tâm hồn
Cánh thư ơi! Hãy nhanh chân
Mang tình quê mẹ hướng về đảo xa.

Là tiếng lòng ấm áp của tất cả các thi sĩ VNTĐ gửi người lính đảo trên tuyến đầu tổ quốc.
Trần Duy Hạnh viết:
”Ta yêu lắm những đảo đá xa bờ
Sống trên đó những người con đất mẹ
Võng gác tiền tiêu canh chừng cửa ngõ
Ngày và đêm để đất nước thanh bình”
(Gửi đảo xa – Trần Duy Hạnh – Hải Phòng tr128)
Đào và mai quê hương sắp nở rồi Thi Nang ơi! Sức khỏe tốt không để ta cùng bước chân lên đảo tặng hoa cho các chiên sĩ quê mình. Thi năng viết:
“Ước thấy mai đào nở ngát hương
Mình càng cách trở lại càng thương
Dù nhiều sóng gió không e biển
Dẫu lắm chông gai chẳng ngại đường”
(Tiễn bước anh đi – Thi Nang, Phạm Văn Náng – Tp.Hcm tr126)
Phạm Yến Nữ thi sĩ của Bà Rịa Vũng Tàu đã phải nhờ đến đôi cánh chim hải âu mang hộ
Niềm thương nỗi nhớ ngọt ngào trong tim” của mình tới người thương “yêu dấu” thi sĩ viết:
“Hải âu xoải cánh chim
Mang giùm yêu dấu đầy thêm trao người”
Tình yêu thương của người con gái với người yêu của mình thật là sâu đậm. Mùa đông đến rồi nàng dặn dò:
“Anh ơi! Đông gió lạnh lùng
Khoác thêm ấm kẻo lòng sắt se”
Nàng chỉ mong một ngày nào đó khi người yêu hoàn thành nhiệm vụ. Ngày hội ngộ ấy, nàng sẽ cùng bạn tình tay trong tay đi dưới nắng vàng rực rỡ của chiều hôm:
“Tay trong tay ấm… mắt ngời lung linh
Em khoe áo mới trong chiều
Sánh đôi phố cũ thật nhiều hương hoa”.
(Biển đảo thương ơi – Phạm Yến – Bà Rịa Vũng Tàu tr95)
Lời thơ đằm thắm, dạt dào. Nhạc thơ êm đềm có lúc bay bổng nhẹ nhàng như tiếng sáo diều lơ lửng trời xanh. Ta như được uống những giọt mật ngọt của đời, của thơ em ạ!
Năm 1985 trong một chuyến du lịch ở Lạng Sơn. Tôi đến sông Kỳ Cùng và phố Kỳ Lừa thơ mộng của miền biên ải phía Bắc. Thăm nhiều cảnh đẹp của non sông. Thăm động Nhị Thanh rồi Tam Thanh. Vượt qua thành cổ nhà Mạc, trèo lên đỉnh núi cao, rồi đứng bên cạnh nàng Tô Thị. Tôi thấy tay nàng bế con thơ. Mắt nàng nhìn về phía chân trời xa thẳm, ngóng, trông, đợi chồng. Đôi mắt nàng rớm lệ. Nhìn cảnh ấy lòng tôi xúc động xót thương. Hình ảnh nàng Tô Thị đã vào thơ của Nguyễn Quang Huỳnh – Bình Dương. Thi sĩ viết:
“Tích xưa hóa đá chờ chồng
Em nay ra biển đợi trông cánh buồm
Mặc gió táp mặc mưa tuôn
Lòng như muối xát, nỗi buồn cắt da”
Thi sĩ Quang Huỳnh nói đúng:
“Đợi anh đợi cả trong mơ
Vọng phu ngày ấy bây giờ là em”
Cảm ơn lắm Quang Huỳnh ơi!
(Đợi cả trong mơ – Nguyễn Quang Huỳnh – Bình Dương Tr68)

Hoa Sim Tím - Bằng Lăng - Thi sĩ của Bình Dương cho biết: Có một mối tình của cô thôn nữ yêu tha thiết chàng lính đảo trong một chiều có nắng vàng rực rỡ. Ánh mắt nhìn đắm đuối thương yêu là tín hiệu sẽ gần nhau. Nụ cười nở tựa hoa cau đã làm cho hai trái tim hồng rạo rực. Buổi đầu họ còn rụt rè bỡ ngỡ rồi kẻ ở khơi xa, người trở về đồng ruộng nhưng sợi tơ tình thì đã quấn quýt bên nhau. NỗI nhớ miền thương đã quyện chặt thì mỗi bước chân đi của người yêu đều có trái tim nàng "Kề cạnh". Thi sĩ viết
"Hai chúng mình ở hai đầu xa cách
Trái tim em gửi theo sóng bên tàu

Đại dương bao la, dù anh đi đâu

Luôn có em cận kề bên cạnh"

Thật là một mối tình tuyệt đẹp. Sợi tơ tình ngày càng quyện chặt, người con gái của đồng quê tiếp tục gửi những lời có cánh động viên chàng hoàn thành nhiệm vụ mong đến ngày vui hội ngộ dưới mái nhà quê mẹ:

"Tình yêu đẹp cho ta đôi cánh

Anh hãy yên lòng súng chắc trong tay

Hải đảo xa xôi canh giữ đêm ngày
Nơi quê nhà em chờ anh mãi mãi"

(Tình biền Hoa Sim Tím - Bằng Lăng).
Trần Nguyễn Dạ Lan - Bình Dương - tr 41, 42.

Ta ước ao sao có nhiều tình yêu đẹp, lãng mạn nên thơ như vậy.

Tôi đã đọc nhiều trang thơ của Nguyễn Hiền Nhân. Thi sĩ viết rất chắc tay, bút lực dồi dào giàu hình ảnh đẹp, lập luận chặt chẽ. Mời bạn hãy đọc bốn cấu thơ sau để biết được bốn ngàn năm nay và cả bây giờ triều đại Đại Hán luôn muốn nuốt chửng nước ta. Ta phải cảnh giác từng giờ từng phút. Nhà thơ Hiền Nhân viết:

"Thành Cổ Loa tổ quốc ta còn vọng

Tin Triệu Đà, Thúc Phán mất giang sơn

Nay còn để cho kẻ thù chiếm đóng
Bản giốc, Trường Sa ai chẳng uất hờn

(Ánh sao Việt - Nguyễn Hiền Nhân - TP Hồ Chí Minh - tr 66).


Phương Nam 3 Thanh Hóa có tình yêu rực cháy. Anh muốn xây thành đắp lũy thật kiên cố để bảo vệ biển đảo ta qua phong ba bảo táp và bọn Trung Quốc tham tàn. Anh muốn người người chung sức chung tay góp đá để xây lũy thành. Đó là suy nghĩ đẹp đẽ vô cùng thể hiện lòng yêu nước nồng nàn. Thi sĩ viết:

"Tiền tiêu trân trọng từng viên đá

Góp sức chung lòng tới đảo xa"

(Gởi đảo xa - Phương Nam 3 - Nguyễn Hữu Nam - Thanh Hóa - tr 107).

Bạn đọc thân mến, biển đảo ta nay đã thay da đổi thịt. Những hòn đảo mà xưa kia ít hoặc vắng bóng người thì nay đã rộn rã tiếng cười. Có tiếng chuông chùa bay bổng tận thinh không vọng đến đảo xa ngoài biển cả. Nơi ấy trời nước mênh mang chỉ có ngư dân và các chiến sĩ trên đảo lắng nghe âm vang của tình nghĩa mẹ. Những hàng dừa xanh bên dòng kênh rạch, trời Nam, vọng điệu lý ngân vang thì nay đã tới đảo xa của mẹ:
"Giữa Nam Yết xôn xao nụ cười trẻ

Lá xào xào tiếng gọi quê hương"

(Tiếng chuông ở Trường Sa - Thích Tín Thuận - Lê Thanh Dũng - Quảng Trị - tr 131).


Đồng điệu tâm hồn với Thích Tiến Dũng. Thi sĩ Phan Hoàng ở cái tuổi áp bát thập mà vẫn lạc quan yêu đời đã phác họa sức sống mới, cảnh đẹp mượt mà, nõn nà của màu xanh Trường Sa:

"Những hàng cây phong ba bảo táp
Tán sum suê che mát cung đường

Cây bàng vuông nở hoa thơm ngát.
Tô đậm đà màu sắc quê hương”

(Màu xanh Trường Sa – Phan Hoàng – tr 105)

Có được màu xanh ấy. Có được cảnh đẹp hữu tình nên thơ ấy là nhờ có cả tình thân thương của mẹ ở đất liền gửi cho con đang canh giữ biển trời hải đảo:

“Những chuyến tàu đất liền ra đảo
Mang theo tình thương mến Trường Sa
Có hạt giống cây trồng của mẹ

Gửi các con màu xanh quê nhà”
(Màu xanh Trường Sa – Phan Hoàng – tr 105)
Thật cảm động đọc lời tâm sự của đứa con đang canh giữ biển trời xa thẳm mà không giữ trọn lời hứa với quê nhà:

“ Con đã hứa hè này về thăm mẹ…”
“Anh đã hứa với vợ hiền yêu dấu…”
“Bố đã nói với con trai của bố
Đi về thăm quê ngoại thân yêu…”

(Lá thư từ hải đảo – Phan Hoàng – tr 98).

Ngòi bút của Trọng Tình đã mô tả cảnh chiến sĩ ta phải chịu đựng mọi gian khổ hy sinh nhưng không hề nản chí, quyết tâm coi:
"Đảo là nhà chiến sĩ
Biển cả là quê hương"

Khi đoàn văn công ra đảo biểu diễn xong trở lại đát liền, các chiến sĩ đã gửi gắm về quê quyết tâm sắt đá:
"Em về anh nhắn gửi
Dẫu bão táp phong ba
Vẫn dâng trào sức sống
Hãy vững tin Trường Sa"

(Vững tin Trường Sa - Trọng Tình, Trần Anh Dũng TP HCM)

Đồng lòng với Trọng Tình "Đảo là nhà chiến sĩ/Biển cả là quê hương" thi sĩ Trần Thanh Vân cũng viết:
"Trường Sa đảo cũng là nhà
Giang sơn gấm vóc mãi là của ta"

Xuất phát từ ý nghĩ ấy mà các chàng trai đem sức trẻ của mình cống hiến cho Tổ quốc, coi đó là một sự đóng góp không hề lãng phí;
"Hiên ngang anh giữ biển trời
Không hề lãng phí một thời làm trai"

Thi sĩ khẳng định đó là khí phách hào hùng của tuổi trẻ Việt Nam ở mọi thời đại:
"Hào hùng chí trẻ hôm nay
Ngăn quân xâm lược ở ngoài biển khơi"

(Gửi người lính đảo - Trần Thanh Vân - Tây Ninh tr 130)
Cuộc đấu tranh để bào vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc dẫu còn nhiều gian khổ nhưng quân dân ta vẫn vững niềm tin vào tương lai tươi sáng, bởi ta có chính nghĩa, có Đảng ta sáng suốt luôn đi đúng đường lối của Bác Hồ nên mặc "sóng to gió cả", mặc kẻ thù hung bạo đến đâu ta vẫn thắng. Thi sĩ Kim Ngân đã viết:
"Mặt biển dù nghiêng lòng vẫn sáng
Boong tàu dẫu ngã, trí nào vơi"

Từ niềm tin sắt đá đó, ta sẽ thắng lợi hoàn toàn:
"Chính nghĩa chung tình cao cả tựa
Trùng dương nước Việt mãi xanh ngời"

(Đảo khơi - Kim Ngân - Lê Ngọc Kim - Thái Bình tr 57)

Cũng như thi sĩ Kim Ngân, nhà thơ Phạm Bá Chiểu có niềm tin tuyệt đối bởi đường lối của Đảng rất hợp lòng dân, lại được nhân loại ủng hộ, sát cánh cùng ta, mặc dù kẻ địch gian giảo, uy lực hơn ta nhưng nhất định ta sẽ thắng. Những chiến công trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền và Hưng Đạo Vương, cùng trận Đống Đa lịch sử của Nguyễn Huệ là những minh chứng cho sức mạnh và khí phách của quân dân ta. Nay ta có trăm triệu dân đồng lòng nhất trí thì đánh đuổi bọn Tàu gian là lẽ đương nhiên. Thi sĩ viết:
"Bạch Đằng sông giờ Bạch Đằng Biển đảo
Điện Biên Phủ trên không rồi giờ Điện Biên Phủ Biển Đông"

(Những đoàn binh sóng trắng - Phạm Bá Chiểu - TP HCM tr 79)

Các bạn ạ! Tập thơ “Biển đảo quê hương” đã cho ta biết được âm mưu xảo quyệt của bọn bành trướng phương Bắc. Nhắc ta phải luôn luôn cảnh giác, không một phút lơ là, mặc cho chúng vừa đấm vừa xoa, vừa xu nịnh phịnh phờ để chờ thời cơ ăn cướp. Quyển sách này cũng nêu được tấm lòng yêu nước của nhân dân ta và cảnh đẹp cùng với tài nguyên phong phú của biển đảo quê và tấm lòng của mẹ.
Không có cách nào khác, phải chiến đấu thôi, phải đi đúng con đường của Bác Hồ vĩ đại: “ Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Lời thơ của nữ thi sĩ Sơn Ca còn văng vẳng bên tai ta:
“Em sẽ theo anh ra biển đông
Nhớ gương bà Triệu nữ anh hùng

Muốn cưỡi cá kình lướt ngọn sóng

Đánh đuổi tơi bời lũ chơi ngông”

(Em sẽ theo anh ra biển đông – Sơn Ca – tr 108).


Tập thơ “Biển đảo quê hương” của diễn đàn VNTĐ thật là hấp dẫn. Nó là một bông hoa rực rỡ tỏa hương thơm quyến rũ. Nó đã đóng góp vào nền thơ ca của Việt Nam hiện đại. Nó sẽ cất cánh bay xa ra ngoài biên giới Tổ quốc để đến với kiều bào ta ở hải ngoại và bầu bạn bốn biển năm châu.

Tôi rất cảm ơn cụ Phan Hoàng đã tặng tôi quyển sách này, nhờ đó có được bài viết “Biển đảo quê hương” Hương thơm lan tỏa.
Tôi có lời cảm ơn chủ nghiệm Forum VNTĐ Phan Văn Nhớ đã cung cấp số liệu cụ thể về biển đảo quê nhà qua “Cùng bạn đọc”. Tôi rất thoải mái và vui khi viết xong bài.
Thân ái chào các bạn!

Việt Trì 31/1/2017

Lê Sĩ Cúc






.

CẢM ƠN BÁC LÊ SĨ CÚC
VỚI TẤM LÒNG YÊU "BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG"
.
Tập thơ "Biển đảo quê hương" - nhiều tác giả - của Forum Việt Nam Thi đàn xuất bản và phát hành đến nay đã được hơn hai tháng. Tập thơ đã đi đến mọi miền đất nước trong đó có vùng hải đảo Trường Sa và những miền biên cương xa xôi của đất nước. Tôi tin là cuốn sách đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bạn đọc.
Cho đến nay chưa thấy có bài viết nào bình luận về tập thơ trừ bài viết "Biển đảo quê hương - Hương thơm lan tỏa" của bác Lê Sĩ Cúc, một thành viên cao tuổi của VNTĐ chúng ta. Tôi đã đọc bài viết này đến mấy lần và mỗi lần đều cảm thấy trong lòng vui sướng và tự hào vì VNTĐ chúng ta đã có được một ấn phẩm về biển đảo phục vụ kịp thời trong giai đoạn đấu tranh giữ nước hiện nay của dân tộc. Các thi sĩ của Thi đàn đã cùng góp chung tiếng nói để "phản ánh trung thực sinh động sự xâm lược tàn bạo của bọn bành trướng phương Bắc. Tập thơ đã nêu bật nghệ thuật chiến tranh của ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần chiến đấu quật cường của quân dân ta. Tình cảm của những người con ở hậu phương với biển đảo" như lời nhận xét của bác Lê Sĩ Cúc.
Tập thơ với 78 bài thơ của 28 tác giả gồm nhiều thể loại: thơ tự do, thơ lục bát, thơ Đường luật... nhưng cùng chung một tâm huyết với "Biển đảo quê hương" nói lên tấm lòng yêu mến biển đảo và quyết tâm giữ vững từng vùng đất vùng biển từng hòn đảo của nhân dân ta. Bác Lê Sĩ Cúc là TV cao tuổi của TĐ chúng ta, bác cũng mới gia nhập TĐ chưa lâu nên chưa có bài tham gia trong tập thơ này, nhưng bác đã rất thích tập thơ, rất yêu mến các tác giả là những người bạn thơ trong TĐ và bác đã đọc hết các bài thơ và đã trích dẫn những câu thơ của tất cả 28 tác giả để đưa vào bài viết. Tấm lòng của bác thật là đáng qúy. Và nếu chúng ta biết rằng gần đây sức khỏe của bác có phần giảm sút, đôi chân bị bệnh khớp đi lại khó khăn phải ngồi một chỗ, ấy vậy mà bác vẫn miệt mài đọc thơ, khả năng sử dụng vi tính còn hạn chế, nhiều khi phải ngồi đọc cho đứa cháu là học sinh phổ thông đánh máy hộ, thì chúng ta càng quý tấm lòng của bác nhiều hơn.
Là một tác giả có đóng góp thơ trong tập, tôi thật xúc động trước tinh thần yêu thơ mến bạn và cả tấm lòng yêu nước, yêu nhân dân và biển đảo của bác.
Xin chân thành cảm ơn bác Lê Sĩ Cúc đã có bài viết công phu và những bình phẩm thât ưu ái đối với các tác giả và những bài thơ trong tập.
Nhân dịp đầu Xuân Đinh Dậu xin kính chúc bác có sức khỏe tốt hơn trong thời gian tới, sống vui sống khỏe với các con cháu và tiếp tục sáng tác thơ đóng góp cho VNTĐ.
Kính chúc bác:
Tuổi cao ý chí càng cao
Hồn thơ lai láng, dạt dào sức xuân!
Ngày 3.2.2017
(Mùng 7 tháng Giêng Đinh Dậu)
Phan Hoàng
ONLINE_USERS_TOTAL_GUESTS (Thông tin cập nhật mỗi 5 phút)
Kỷ lục online cùng lúc là 122 người, vào ngày 06 Tháng 3 2017, 10:06

Đang xem chuyên mục này: 10 khách