Nguyễn Lâm Diễm - TRUYỆN & KÝ

Các điều hành viên: Lý Thu Thảo, Lý Thu Thảo, Lý Thu Thảo, Lý Thu Thảo

.....


MẸ TÔI
Truyện ký

NGUYỄN LÂM DIỄM

Mọi sinh linh sinh ra ở trên đời này đều có một người mẹ. Mẹ của một vị vua sáng. Mẹ của quan thanh liêm hết lòng vì dân, lo cho dân cho nước. Những bà mẹ có con hy sinh vì Tổ quốc. Tổ quốc đời đời nhớ ơn mẹ, không có sự đền ơn đáp nghĩa bằng vật chất nào bù đắp được! Không có lăng tẩm, tượng đài nào có thể tô đắp được công lao sinh thành của các bà mẹ ấy. Lại có những bà mẹ sinh ra những đứa con là vua hèn, quan tham, bán rẻ tổ quốc để sống vinh thân phì da. Những đứa con hủ bại mang tội giết người cướp của làm đau lòng mẹ. Những người mẹ ấy đau khổ đến chừng nào, tôi không lý giải được! Anh em tôi, thật may mắn, mẹ chúng tôi bình dị, khiêm nhường như bao bà mẹ Việt Nam khác.
Bà quê ở Võ Liệt, mảnh đất địa linh nhân kiệt, sàn sinh nhiều bậc tài danh. Ông nội bà là vị Tiến sĩ Phan Sĩ Thục nổi tiếng một thời dưới triệu vua Tự Đức. Thân sinh ra bà từng làm quan huyện vùng xứ Quảng, vì táng cụ Trần Quý Cáp khi cụ bị hành hình, bị Tây phát hiện nên từ quan về quê. Thân mẫu bà làm nghề hàng xáo, nhưng thông thạo chữ Hán, đọc ngược cả truyện Kiều không sót một câu. Đối với chúng tôi, mẹ thật tuyệt vời.
Mẹ tôi về làm dâu ông Hàn, vị cử nhân dòng họ mười sáu đời khoa bảng ở tuổi mười lăm, cha tôi ở tuổi mười chín. Bà nội tôi đã mất khi sinh chú út do bị băng huyết. Ông nội giao quyền quản lý cho bà con dâu cả. Cha tôi là con trai thứ ba, dân làng thường gọi là cậu Ba. Cậu giáo Ba làm nghề dạy học, là giáo sư tiểu học (chính quyền thực dân Pháp nó gọi thế). Ông dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp. Ông nói tiếng Pháp thong thạo, làm thơ hay. Mẹ tôi được thơm lây, dân làng thường gọi là chị giáo. Cái ngày xưa ấy, tôn sư trọng đạo: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Mẹ tôi được dân làng tôn trọng lắm.
Năm mẹ tôi về làm dâu ông Hàn, ông đã già, bà mất, mọi công việc trong gia đình đè nặng lên đôi vai bé nhỏ của o Thúy (Sau lấy chồng gọi là o Hiếu). Bác Cả lấy vợ, có người quản lý thay, o mới đi lấy chồng. Người ăn kẻ ở trong nhà có đến ba chục người. Mỗi lần bác Cả đi chợ, mẹ tôi vác bị tiền đi theo. Bác cả mua đến đâu, mẹ tôi trả tiền đến đấy, bốn người đi theo khiêng gánh. Hồi ấy, bác cả đã có hai ba người con. Đến bữa ăn, ông Nội ngồi ăn với các con trai, mấy mẹ con bác Cả ăn riêng. Mẹ tôi thay mặt gia đình ngồi ăn cùng với những người làm công. Cô con dâu mười lăm tuổi phải ngồi cạnh nồi cơm để xới cơm cho mọi người. Họ đều là lực điền, ăn nhanh như gió cuốn, chưa và xong miếng cơm vào miệng đã phải buông bát xới cơm cho người khác. Suốt bữa ăn không nổi bát cơm. Bà thường bị đói, phải trốn về nhà bà ngoại để ăn. Mẹ tôi vừa đi, vừa chạy trên quãng đương gần mười cây số để kịp về nhà mình và nhà chồng. Những hôm tối trời, mưa dầm gió bấc, bà sợ ma. Bà ngoại sai chú Hộ đưa đón mẹ về.
Ông Nội tôi thương mẹ tôi lắm, ông cho cha mẹ tôi ở riêng. Ngôi nhà ông làm cho cha mẹ tôi rất xinh xắn. Bác cả cho cha mẹ tôi hai thúng thóc, hai chiếc đĩa sành, vài ba chiếc bát đàn, hai sào ruộng và con nghé. Con nghé mới mọc sừng, đêm đêm nhớ mẹ kêu nghé ọ, nghé ọ…rất thảm thiết.
Hôm lợp nhà, dưới đống tranh có con rắn rất lạ, cha tôi đánh chết con đó. Lúc sau con thứ hai bò về, đánh chết con thứ hai. Lát sau con thứ ba bò về…Cứ thế, cha tôi phải đánh chết con thứ mười ba. Người ta bảo đó là giống rắn họ. Cả nhà đêm ấy không ai giám ngủ.
Vườn nhà tôi cạnh vườn nhà bác Hai. Nằm trên sườn đồi dốc thoải được san thành bậc, bậc trên cùng làm nhà ở. Trước cửa, bên mép sân cạnh vườn nhà bác Hai có gốc mít rất to, nhiều quả, cứ gần chín là bị thối trắng như vôi. Thường phải hái non làm nhút. Nhút làm từ cây mít này rất ngon, vàng ươm. Dưới gốc mít sau nhà rắn hổ mang làm tổ. Đêm đêm đàn rắn đi về, bụng chúng lướt trên ngọn cỏ rào rào, nghe mà thấy sợ, đêm không giám đi ra ngoài. Bậc vườn dưới cùng giáp với đường liên thôn. Dân chợ Cồn, chợ Phuống vào rừng thượng nguồn hói Vệ lấy củi, cắt cỏ phải đi qua. Cứ khoảng gà gáy sáng, từng đoàn người già trẻ trai gái kéo nhau vào rừng vừa đi vừa chuyện trò huyên náo. Thậm chí còn lấy dao, liềm gõ vào đòn càn, đòn xóc kêu râm ran, lũ chó sủa inh tai, nhức óc. Chiều về, khi gà lên chuồng, từng đàn trâu bò từ trại Gộc kéo về, theo sau là đoàn người gánh củi, cỏ, kẽo kẹt qua làng về chợ Phuống, Chợ Cồn.
Trên mảnh vườn cuối cùng ấy là đình Kẻ Eo. Đình làng khá rộng rãi, lợp tranh. Hướng đình Đông Nam trông ra Eo Bù, mùa hè lộng gió. Đình là chỗ trú mưa nắng mùa hè, mưa lũ tháng tám, chỗ trú qua đêm của những người vào rừng về muộn. Chúng tôi, lũ trẻ làng, trưa hè trốn mẹ ra đây đánh đáo, trọi gụ, vật nhau, thách nhau đấm đá. Tuổi thơ, trong tôi còn lưu lại hình ảnh của ngày ấy:
Trưa hè mẹ bắt ngủ
Bỏ trốn ra Eo Bù
Trọi gụ và đánh đáo
Lộn túi sạch hêt xu
Sau năm 1945, chính quyền về tay nhân dân. Họ coi việc thờ cúng ở đình, chùa, miếu mạo là mê tín dị đoan. Đình làng bị phá bỏ, hư hỏng mục nát, bàn thờ vất chổng chơ, còn trơ lại cây muỗm, cha tôi chặt lấy gỗ làm phản. Mùa hè, mấy chị em chúng tôi chen nhau nằm trên tấm phản ấy hóng mát, nghe cha đọc thơ.
Cha mẹ tôi được ở riêng, sống thoải mái và đỡ khó nhọc hơn. Ông bà được làm chủ gia đình của mình. Bà ngoại tôi không phải lo cho con gái mình bị túng bấn.
Mẹ tôi, ngoài công việc dệt vải, đi chợ theo mẹ (Bà ngoại tôi), bà không biết cày cấy, gặt hái. Cha tôi con nhà quan, chỉ biết học chữ. Khi cha mẹ tôi sinh chị thứ ba, ông vẫn là học trò chữ Hán của ông nội tôi. Mọi công việc nhà nông hai ông bà phải học từ đầu. Bà phải làm quen dần với bùn lầy, sâu, đỉa. Xuống ruộng học cấy, gặt hái, bó lúa, gánh lúa về nhà, gánh phân ra ruộng. Cha tôi không biết gánh, mỗi sáng ra ruộng tập cày, bừa, chiếc cày trên vai đè nặng làm lưng ông còng xuống, măt mũi đỏ bừng, mồ hôi vã ra như tắm. May thay, cha tôi được học cả chữ Hán, chữ Tây, chữ quốc ngữ nên có chữ để bán, bán không tiền cho lũ học trò nghèo khổ. Mẹ tôi có nghề dệt vải, chăn tằm. Lam lũ đấy, vất vả đấy, nhưng được mọi người trong làng, ngoài xóm trân trọng, quý mên.
Năm mẹ tôi mười bảy tuổi, chị cả tôi ra đời, chị tuổi Ất sửu (1925). Nhà neo người nên không được bế ẵm, chăm sóc. Mẹ suốt ngày ngồi trên khung cửi. Chị bò lê khắp nhà. Đói, khóc mẹ cho bú, no bụng lê la cạnh mẹ. Buồn ngủ cứ việc lăn ra đất mà ngủ. Có hôm mẹ mải làm, quên mất chị, đến bữa ăn trưa sực nhớ đến, thấy chị đang nằm gác chân lên bụng con lợn ngủ sát gậm giường. Chị tôi lớn lên như thế đấy, người chị nhỏ thó, lắm mụn nhọt. Tuổi mười bảy, chị đi lấy chồng, cổ chị còn mấy cái nhọt to bằng quả táo. Gai đình chồng chị cũng bị cách mạng hành cho tan nát, con cái bị cấm đoán không cho vào đại học. Thế mà phúc tổ tông đã cứu giúp anh chị tôi thoát mấy nạn tù đày, tịch thu tài sàn ba bốn lần để bây giờ thảnh thơi ở Sài Gòn cùng con cháu thành đạt. Anh rể và chị tôi vẫn khỏe mạnh, minh mẫn ở độ tuổi ngoại chin tư rồi. Anh rể , chồng chị, chúng tôi vẫn tôn thờ, kính trọng anh như người ảnh cả trong nhà.
Năm 1930 – 1931 cha tôi làm Cộng sản. Ông lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở thôn Kim Long, tham gia huyện ủy viên, phụ trách tuyên truyền chủ nghĩa Mác. Ông bị quan Tây và lính Ta săn lùng không giám về nhà, phải vào rừng lẩn trốn. Chúng treo ảnh khắp nơi, để truy bắt ông. Mấy lần, chúng định bắt ông nội tôi lên đồn để làm con tin, nhưng uy quan cử nhân Hán học lớn quá, chúng không giám. Bắt quan Hàn, cộng sản lợi dụng tổ chức cả tổng nổi dậy biểu tình, chúng không đối phó được. Chúng đốt nhà. Ngôi nhà ông nội làm cho cha mẹ tôi xinh xắn đến thế mà bị chúng nó đốt cháy ngút trời. Làng xóm giúp mẹ tôi dựng lại ngôi nhà bốn cột bằng cây núc nác, lợp tranh, vách bằng mo cau, lá cau ken lại. Có nhà, nhưng mấy mẹ con phải đi ngủ nhờ nhà hàng xóm. Đêm đến, bọn lính Tây, lính khố xanh ở đồn My Sơn rình mò trong xóm, ẩn nấp quanh nhà. Sáng, bọn chúng rút đi, mấy mẹ con mới về nhà. Trên bốn cột nhà bọn chúng dán đầy mẩu thuốc lá sâu kèn.
Ông nội tôi mất vào năm 1931 ở nhà chú Út. Ông dặn bác Cả và bác Hai không được cho cha tôi về chịu tang. Nếu về bị Tây bắt sẽ mắc tội bất hiếu với cha. Cha tôi ngồi trên đỉnh núi sau nhà nhìn đám tang cha mà trào nước mắt.
Loạn Cộng sản đã bị đàn áp. Phong trào Cộng sản thoái trào. Bà ngoại tôi cho tiền giúp cha mẹ tôi làm lại nhà. Cha mẹ tôi có nhà ở, yên ổn làm ăm. Cha tôi lại tiếp tục làm nghề dạy chữ trong ngạch nghà nước, được hưởng lương của chính phủ đương thời. Mẹ tôi, thời nào cũng vậy, trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa và nghề nông nửa vời. Bảy chị em chúng tôi quây quần trong ngôi nhà bà Ngoại làm cho. Mảnh đất làm nhà, cậu tôi chọn mặt bằng, hướng nhà hợp với phong thủy nên gia đình mẹ tôi sống được một thời êm ấm và hạnh phúc.
Hạnh phúc bao giờ cũng ngắn ngủi. Bất hạnh bao giờ cũng bất ngờ, khó lường và kéo dài lê thê, vô định.
Tai họa dáng vào đầu mẹ tôi trong chớp mắt. Cuộc cách mạng CCRĐ năm 1956 long trời lở đất cướp đi sinh mạng cha tôi khi mới năm ba tuổi. Mẹ trở thành góa bụa ở tuổi bốn chín. Chúng tôi mất người cha vô cùng kính yêu, trụ cột của gia đình. Chúng tôi chỉ còn người mẹ để bấu víu, nương tựa. Nhà cửa, tài sản, thóc gạo bi họ cướp hết. Mấy mẹ con được nông dân cho ở trong chái của chuồng trâu. Đêm phải mò ra các gốc cây mít trong vườn trộm củ từ được cha tôi vùi cất từ trước. Nhờ ăn trộm củ từ của nhà mình mà mấy mẹ con tôi khỏi chết đói. Cha chết, mẹ suy sụp, đói ăn, mẹ tôi gầy như que củi, thế mà, sáng nào cũng vác dao vào rừng lấy củi mang ra chợ bán. Dân kẻ chợ họ biết mẹ tôi nên mẹ tôi bán được nhanh và giá cả hời. Khổ đến thế nhưng chưa phải là cùng cực. Khổ và nhục nhất là làm xã viên hợp tác xã nông nghiệp. Nghề nông nửa vời của mẹ và em tôi bao giờ cũng được họ chấm công điểm thấp nhất. Con cái không được vào học Đại học. Mẹ tôi chịu được cái bụng đói nhưng không chịu nổi danh dự bị chà đạp. Cái tai hại là cốt cách con nhà quan ăn vào máu thịt của mẹ tôi. Mẹ đau khổ dằn vặt suốt đời về nỗi đau ấy.
Cuối đời mẹ được ngẩng cao đầu vì các con mẹ đã sống không hèn kém. Dân làng và họ tộc một thời coi gia đình tôi là tử thù, chúng tôi bỏ quê ra đi, nghĩ không bao giờ trở về. Chúng tôi đưa mẹ ra Hà Nội, Hải Phòng rồi bà ra đi nơi đất khách quê người.
Thời thế đổi thay, quê hương không còn thù hận. Các con đã đưa mẹ về ở cạnh cha. Không biết thế giơi bên kia, cha mẹ có gặp nhau hay không. Nơi trần thế, chúng con tin là cha mẹ được ở gần nhau sau bao năm ly biệt. Cha mẹ an giấc ngàn thu trên mảnh đất bao đời nghĩa tình và cũng đầy nước mắt.


Hà Nội 2014
NLD

Chào bạn Lâm Diễm . Tôi ở bên này sông Lam, xã Lưu sơn, này là cầu Đô Lương, cúng đã sống trong thời gian đó và cùng cảnh như nhà bạn. Bởi vậy rất hiểu hoàn cảnh lúc bấy giờ. Anh em chúng tôi ra Bắc làm việc cả. Đọc bài của bạn tôi hiểu rất sâu xa và khen bạn trí nhớ tốt. Chúc bạn khỏe và viết tiếp. Đấy cũng là niêm vui tuổi già .
Chào bạn Lê Sĩ Cúc

....

PHONG TRẦN
Truyện ngắn

NGUY ỄN LÂM DIỄM

Phong Trần như kẻ hành khất, ngồi nép vào mạn thuyền. Chiếc nón lá, vành gãy thành bốn góc che kín mặt, chăm chăm nhìn vào hai bàn chân trần dính đầy cát. Bộ quần áo nâu bạc thếch có mấy mụn vá đẫm mồ hôi, bốc mùi chua loét. Cô lái đò đẩy sào trước mũi thuyền xoi mói nhìn, nói lẩm bẩm: "Thằng ăn mày từ đâu lai vãng đến vùng này nhỉ? Sao bẩn thế không biết". Đò cập bến. Phong Trần moi trong túi áo một tờ năm hào mới tinh trả tiền đò. Người lái đò chưa kịp trả lại tiền thừa, Phong Trần đã vội nhảy lên bờ. Người lái đò gọi theo: “ Anh kia, rách như tổ đỉa mà chơi sang thế, ba hào tiền thừa, cả nhà ta năm người được một bữa ăn ngon đấy. Anh có điên không hả… ?”. “Ta không lành mà cũng chẳng điên. Ta cũng không phải là ăn mày. Ta không thừa tiền để cho không các ngươi. Ta đang vội, it hôm nữa qua sông, ta đòi lại đấy”. Phong Trần vừa đi, vừa gào lên như cho cả bàn dân thiên hạ, cho cả cái bến đò này nghe tiếng.
Người lái đò như chợt nhớ ra, nói với cô em gái đứng trước mũi thuyền: "Thôi chết rồi! Có lẽ con trai ông giáo Bá. Ta nghe giọng nói quen lắm. Anh ta đi biệt tích trong Cải cách ruộng đất. Đã mấy năm nay không ai biết anh ta đi đâu. Ngày ấy, khi trời đã tối, ta neo thuyền định về, bỗng có người ở trong bãi ngô ăn mặc như anh chàng này, tiến lại gần và nhờ chở qua sông.
- Con thầy Bá phải không? Ta vội hỏi.
- Đúng, tôi là con thầy Bá. Tôi biết anh không sợ liên lụy nên tôi đã chờ từ trưa đến giờ để nhờ ! Anh ấy bình tĩnh trả lời.
Ta đã đưa anh ấy qua sông, không hỏi một lời, chỉ ôm lấy anh và chúc anh thượng lộ bình an, gặp nhiều may mắn. Sửa sai, họ đã trả lại nhà cửa, trả lại thành phần và Đảng tịch cho Thầy, cớ sao anh trở về lại phải ăn mặc như thằng ăn mày vậy? Người lái đò lặng im một lúc rồi tự trách mình: "Tại sao mình lại ngớ ngẩn thế nhỉ, giá như mình để ý một tý thôi, mình sẽ nhận ra anh, đỡ day dứt, băn khoăn”.
Phong Trần ghé vào đình làng Thổ, lớp học tuổi ấu thơ. Đây là bục giảng bài của thầy giáo Cha. Cái rèm cửa chỉ còn trơ bộ khung tre. Trong góc, ngai thờ Thành hoàng làng gãy nát, vứt chỏng chơ. Đầu con ngựa bạch cắm mõm xuống đất, đôi mắt bạc thếch như kêu đất. Đất không hay. Đầu con ngựa hồng ngửa mõm lên trời, đôi mắt trợn trừng như kêu trời. Trời không thấu. Trận mưa đêm qua nước lọt qua mái ngói dột nát đọng thành vũng trên nền nhà. Đình làng vàng son một thuở, giờ đổ nát tan hoang. Biểu tượng của văn hóa làng đã biến mất. Nền văn minh của làng quê trở về cội nguồn sơ khai, hoang dại, man rợ. Con người chân quê đâu rồi? Một cơn gió mạnh thổi qua, Phong Trần rùng mình bừng tỉnh, vội giữ chặt lấy vành nón, chiếc vành nón kêu rắc, đứt thành bốn đoạn. Cây phi lao còn sót lại trước cổng đình vật vờ rên xiết gió. Phong Trần như thoảng nghe tiếng giảng bài của thầy giáo Cha năm nào vọng về. Đứng lặng một lúc, thở một hơi thật sâu rồi vội vã đi tiếp. Qua cây bàng đôi, anh lần theo đường bờ ruộng đến bên bờ hói. Phong Trần ngồi xệp trên mô đất đầy cỏ may, đối thoại với bóng tịch dương: "Khúc sông uốn khúc này đã cho ta nhiều cá, nuôi sống mấy mẹ con ta trong những ngày đấu tố. Kia
là mép sông, nơi cha ta nằm, bọn Đội và tên thư ký gí roi vào mặt ta, bắt lột quần áo cha ta cho bọn hắn khám. Tấm phên che nắng cho thi hài của cha hãy còn kia, mưa nắng chưa hủy hoại hết, hãy còn một mảng nằm trơ trọi. Hình như bóng cha ta đang lướt trên mặt nước sông và đang gọi ta. Đám đất kia, đất sét gan gà, hôm đào huyệt, nắng hạn khô cứng như đá. Ta phải chọn hố trâu đầm tận trong góc kia, nước mưa đêm trước chưa thấm hết, đất mềm hơn, suốt cả trưa đến chiều tối chỉ đào được chiếc hố sâu vài tấc. Ba tấm phản cha ta làm bằng cây trôi cạnh đình Kẻ từ năm cướp chính quyền (1946), mười năm sau (1956) làm áo quan, hai tấm làm vách, một tấm làm ván thiên, hai đầu được chắn bằng hai chiếc ghế gỗ. Cha nằm trên mấy tấm lá chuối lót lưng, không có khăn vải lượm, chỉ mặc bộ quần áo nâu sồng cộc cỡn, bạc thếch. Mấy mẩu ván sau cải táng còn đây, bọn trẻ chăn trâu đốt cháy nham nhở vất chỏng chơ giữa trời đất. Con trâu nhà ai đang đầm mình tắm bùn ỳ oạp trong lỗ huyệt, hình như con trâu nhà ta bị bắt làm quả thực thì phải !".Phong Trần ôm mặt khóc, ngực đau đến nghẹt thở.
Mặt trời mờ mờ còn rớt lại sau đỉnh rú Chúa. Hoàng hôn ập đến. Muỗi bay từng đàn. Trông lên trời, những đốm sao long lanh bập bỗng thẫn thờ, bớt vợi nỗi u uẩn. Phong Trần về nhà !
Bà cầm tay cháu đặt vào tay người ăn mày, bảo: "Chào cha đi cháu, đấy là cha cháu". Thằng bé khóc ré lên: "Ăn mày, cháu sợ ăn mày lắm…". Bà bế cháu vào bếp thổi lửa, châm ngọn đèn dầu. Ngọn lửa bùng lên, soi rõ chiếc nồi đất đang bốc hơi. Mùi koai lang khô tỏa ra khắp nhà. Có lẽ nồi cơm hấp khoai là bữa tối của mẹ. Phong Trần đứng trơ trơ giữa sân, tự hỏi: "Con mình đây ư? Thì ra mình đã có con. Mười tám tuổi mình đã làm cha rồi ư? Con sinh ra không gặp thời, mẹ cha ly tán, bà nội chăm ẵm. Bà gầy chỉ còn da bọc xương, cháu còm nhom, lẵng nhẵng như dãi khoai, liệu có nên người không? ".
Phong Trần lẳng lặng vào nhà, vứt nón, tay nải vào chiếc chõng tre. Người mẹ nhìn con xót xa. Bên nách bà, thằng bé giãy dụa, khóc thét lên, nước mắt nước mũi nhầy nhụa. Nghe tiếng khóc, chị hàng xóm chạy sang ôm lấy thằng bé. Bàn tay bé xíu chỉ vào góc nhà tranh tối tranh sáng, miệng nói líu ríu, mách với chị: "Cha…ăn mày, cha…ăn mày…". Chị hàng xóm quay lại chào: "Cậu đã về, mấy năm nay hai bà cháu mong cậu lăm!" Chị bế thằng bé ngồi vào mép chõng tre, vạch vú cho nó bú tý. Thằng bé vừa bú vừa nhìn cha. Chị hàng xóm cười nựng, bảo: "Cha chứ không phải là cha ăn mày nghe con ".
Phong Trần lấy quần áo ra bể nước, tắm, lát sau vào nhà, đã lột xác. Thằng bé bỏ bú, anh đưa tay đón, thằng bé theo, quàng tay ôm cổ, miệng gọi cha liên hồi. Con chó vàng rít lên ngoài sân. Chị hàng xóm nhanh nhảu nói: "Cậu Út về bà ơi! " Phong Trần chạy ra ôm lấy em. Hai anh em nước mắt dàn dụa. Bữa cơm tối đầu tiên sau bao năm của mấy mẹ con chỉ có cơm độn khoai lang khô, mấy con tép kho, nhút chấm tương. Họ ăn ngon lành vì sự đoàn tụ. Đêm ấy ba mẹ con không ngủ.
Trời vừa rạng sáng. Con chó vàng hộc lên một tiếng rồi chạy vụt ra cổng xông vào người khách. Phong Trần vội chạy ra, quát, con chó lập tức ngừng chiến. Họ nhận ra nhau, tay giắt tay nhau vào nhà. Gian nhà ngoài, trên bàn thờ hương cháy nghi ngút. Dưới đất, trên chiếc mươn (bàn ăn làm bằng tre) bày bộ quần áo nâu bạc thếch, đôi guốc mộc mòn vẹt gần nửa như lưỡi rìu, úp lên trên là chiếc nón gãy bốn góc như chiếc bánh chưng. Nén hương cháy dở cắm trên chóp. Quay người về phía bà, người khách phân bua: “Dạ thưa bà giáo, con đường đột đến sáng nay là vì hôm qua người qua đò, ăn mặc rách rưới như kẻ ăn mày, con trả tiền thừa không thèm lấy lại. Người ấy đi rồi con mới nghĩ, có lẽ Trần, con thầy trở về. Suốt đêm con không chợp mắt, mong trời sáng thật nhanh để vào đây. Nếu quả thực Trần về, con mừng lắm". Phong Trần xúc động, cầm tay Trình, nói :
- Hôm qua lúc qua đò, tôi cố tình không lấy lại tiền thừa và gào lên thật to, chỉ mong anh hiểu ngầm, người ăn mày chính là tôi, nhất định anh sẽ đến. Quả thật, anh đã đến. Chắc ở thế giới bên kia, cha tôi vui lắm. Vui vì gia đình đoàn tụ, vì cha tôi có người học trò trung hiếu, thủy chung, tôi có người bạn tốt, em tôi có người anh, con tôi có người bác, mẹ tôi thêm người con hiếu đễ. Hương đã tàn, hai anh em mình hóa vàng đi. Hóa nỗi khốn cùng kia. Chôn chúng vào quá khứ để mà sống cho ra sống. Anh ạ! .
Góc sân phía chuồng gà, chiếc nón bốn góc, bộ quần áo nâu, đôi guốc mộc, cháy leo lét, khói bốc lên khét lẹt.
Ngôi mộ mới cải táng năm trước, cỏ mật đã mọc kín, dưới ánh nắng ban mai tỏa mùi thơm dịu ngọt. Trình nói: "Hôm cải táng, tấm ào sồi trên ngực vẫn còn nguyên, vạt dưới lưng nát vụn lẫn vào lá chuối mục, các đốt xương sống, xương đùi đã bị mủn mất một ít. Mình, chú Út và anh rể Cả nhặt nhạnh, cọ rửa rất kỹ. Chiếc khăn tang trên đầu mình, một phần là bổn phận người học trò, một phần thay Trần để thầy được yên giấc. Bà bớt tủi thân. Hôm ấy vào ngày chủ nhật, người Công giáo đi lễ nhà thờ về qua, nhập vào đám tang rất đông. Cờ phướn cắm dọc đường bay phấp phới. Tiếng trống, chiêng vang lên như cáo với trời đất nỗi oan khuất của Người".
Một tháng trôi đi rất nhanh. Phong Trần ra đi. Người mẹ ngắm nhìn con chưa đã mắt. Người em chưa nghe anh kể về những năm tháng đi biệt tích. Thằng con vừa bén hơi cha đã xa cách. Người mẹ ẵm cháu, người em lặng lẽ theo sau, tiễn tận cồn Pheo. Anh đi, để lại sau lưng ba bà cháu, mẹ con nỗi cô đơn, côi cút. Người mẹ gạt nước mắt gượng cười. Thằng con khóc toáng lên đòi theo cha. Người em quay mặt vào gốc duối bên đường ngậm ngùi tủi phận. Phong Trần, mắt ráo hoảnh, không chớp, cố nuốt cục nước bọt pha nước mắt đắng nghoét ứ đầy trong cổ họng. Qua cây bàng đôi, quay mặt về làng, anh vẫn nhìn thấy ba bóng hình nhỏ nhoi ôm nhau trụ lại như hòn đá tảng. Chỉ có ngọn cây phi lao vô tình, thản nhiên phất phơ trong gió.
Phong Trần quay mặt đi, đầu không ngoảnh lại. Chặng đường dài trước mặt vô định, đầy chông gai, đầy cạm bẫy. Đi, ba bóng hình nhỏ nhoi chốn quê nhà, thúc dục anh vững bước ./.

Hà Nội, 2009

Re:

Lê Sĩ Cúc đã viết:Chào bạn Lâm Diễm . Tôi ở bên này sông Lam, xã Lưu sơn, này là cầu Đô Lương, cúng đã sống trong thời gian đó và cùng cảnh như nhà bạn. Bởi vậy rất hiểu hoàn cảnh lúc bấy giờ. Anh em chúng tôi ra Bắc làm việc cả. Đọc bài của bạn tôi hiểu rất sâu xa và khen bạn trí nhớ tốt. Chúc bạn khỏe và viết tiếp. Đấy cũng là niêm vui tuổi già .
Chào bạn Lê Sĩ Cúc


Cảm ơn bác Cúc, người đồng hương xứ Nghệ nhé!
Thời kỳ lịch sử đau thương, tàn bạo , mất nhân tính ấy qua rồi. Nó thuộc về lịch sử. Anh em mình đã để vào góc khuất cuộc đời để tồn tại và phát triển.
Thế nhưng tôi vẫn viets về nó để cho con cháu mai sau ý thức được một sự thật mà người ta cố tình bưng bít, xóa nhòa đi. Lịch sử không viết thì văn chương phải có trách nhiệm bác ạ. Mời bác đọc truyện ngắn Phong trần nhé
Kính chúc gia đình bình an.
Tôi là anh trai Nguyễn Lâm Cẩn,Năm nay 80 rồi.Sắp hết bác ạ.
Nguyễn Lâm Diễm

.....

CÁI TẾT ĐẦU TIÊN Ở HÀ NỘI

Tự truyện
NGUYỄN LÂM DIỄM

Năm nay mình mới bảy ba tuổi, chưa già lắm mà cảm thấy sức khoẻ yếu. Chả nhẽ khi bước vào đời, hai bàn tay trắng, về hưu trắng tay, về với tổ tiên cũng tay trắng sao? Thế thì tủi phận quá! Mấy đêm mình mất ngủ vì băn khoăn day dứt, đêm nay cũng vậy, gần sáng rồi mà đôi mắt cứ ráo hoảnh, toàn thân đau như dần. May quá, mình lại được ở một phòng riêng biệt, bật đèn, tắt đèn, không ảnh hưởng đến ai. Chợt nghĩ đến cái hòm sách cất kín đã năm mươi tư năm có lẻ, nằm lẻ loi trong góc phòng. Năm mươi tư năm côi cút, chỉ có mình với nó, nó với mình, chuyển dịch bao lần, từ Hà Nội lên Lao Cai, từ Lao Cai về Hà Nội, về Hà Nội lại phải dich chuyển bao lần theo sự thăng trầm của cuộc đời. Mình khổ, nó khổ. Mình vui nó vui. Mình buồn nó buồn. Mình cô đơn thì chẳng có ai đoái hoài đến nó. Mình thì lúc nào chả cô đơn. Thế là nó bị vất vào một xó. May cho nó, mình chuẩn bị hành trang về cõi nên nó được sờ đến. Cái khoá hoen rỉ, mình vừa đụng đến đã lăn quay ra đất. Chiếc hòm bằng gỗ tạp làm thùng đựng thuốc nổ, mình xin được từ Lao Cai về còn nức mùi thông. Các tập sách còn nguyên. Mình ngồi bệt trên sàn nhà, lật từng quyển một. Trời ơi ! Quyển nhật ký mình viết thời còn học ở trường Kỹ thuật hãy còn nguyên vẹn, giấy đã ố vàng, mực đã phai mầu nhưng còn đọc được. Nhìn lại nét chữ của mình hơn năm mươi năm trước sao mà xúc động thế, nét chữ học trò phổ thông non nớt, song đã pha mầu sương gió. Nằm lăn ra sàn nhà, đọc ngốn ngấu, đọc đến đoạn chép về cái tết đầu tiên ở Hà Nội, mình như sống lại cái tết năm đó. Không hiểu sao, bao nhiêu năm nay, nước mắt mình đã cạn vì nỗi đau thế sự ở đâu trào về nhạt nhoà. Mình phải đặt nó vào thùng, ra ngồi ngoài hiên hưởng tý gió trời. Làn gió ban mai mát rượi. đầu óc bình yên lại, minh lôi quyển nhật ký ra đọc tiếp:
Tết Đinh Dậu, năm 1957.Tết đầu tiên xa nhà, tôi ở lại Hà Nội. Ở lại với niềm thương nhớ khôn nguôi mẹ và em ở nhà. Mẹ ơi! Tết này con không về, mẹ và em ăn tết ra sao? Cha vừa mất, trong ngôi nhà tranh vách nát, có gì để cúng cha, có bánh chưng, thịt lợn cho em ăn không? Mẹ có mâm cơm để cúng ông bên nhà bác Cả không? Cháu nội của mẹ ăn tết với mẹ hay về bên ngoại? Có lẽ ở nhà rét, mưa phùn, đường lầy lội lắm phải không? Em có áo rét đủ ấm không mẹ? Chính quyền, làng xóm và anh em họ hàng có gây rắc rối gì cho mẹ không?Trường con, mấy ngày tết vắng lắm. Học sinh và nhân viên nhà trường về quê ăn tết gần hết. Lớp con chỉ có hai thằng xứ Nghệ, không về nhưng bạn con có anh em ở Hà Nội. Chỉ có mình con trong dãy lán như dài ra đến vô tận. Vắng cả tiếng kẻng. Chỉ có tiếng loa phóng thanh với bản nhạc hiệu “Giải phóng Điện Biên”mà mỗi lần cất lên làm con nhớ nhà đến quặn ruột. Gió, chỉ có gió vô cùng phong phú. Gió thổi suốt ngày, suốt đêm. Cánh đồng trước mặt rộng mênh mông. Lúa xanh mơn mởn, một mầu xanh vô tận, dạt dào theo gió. Trời thẫm mầu, mưa xuân lất phất. Mấy ngày tết ở Hà Nội phải có mưa xuân lác đác mới là tết. Hà Nội vào xuân, mưa thuận, gió hoà. Ngày không nhìn thấy mặt trời. Đêm không thấy sao. Thỉnh thoảng, tiếng xe bò lọc cọc qua cổng trường nghe rời rạc, thê lương, như kéo theo linh hồn của người chết lang thang, không nhà, không cửa đến mả mồ hoang vắng ở nghĩa trang Quảng Thiện.
Mẹ ơi! Ngày sao dài thế. Đêm 29 tết sao lạnh lẽo, cô đơn đến thế! Hà Nội đang vào xuân. Hà Nội đang đón giao thừa. Người Hà Nội, nhà nhà con cháu sum vầy, chuẩn bị cỗ tết và chuẩn bị pháo đốt vào lúc giao thừa. Còn con của mẹ đang nghĩ về mẹ, về em, về người cha vừa bị cướp mất cuộc sống. Về nỗi đau thương của gia đình mình nơi quê hương xa ngái, nhạt nhoà tình thân, tình người, tình họ hàng làng xóm. Nằm nghĩ về mẹ, về em và những ngày qua ở nhà, đầu óc con như vỡ tung. Mẹ ạ, như có ai đang gọi con ngoài sân. Con tạm biệt lòng thương nhớ mẹ. Thằng Trân đang gọi con đi đón giao thừa. Giao thừa của cái tết đầu tiên con xa mẹ, xa em. Cái tết sau hai năm giải phóng Thủ đô.
Tôi và Trân, hai thằng con địa chủ xứ Nghệ, quần nâu, áo vải, đi hai đôi guốc mộc mòn vẹt cả gót, lê bước trên đường từ ngoại ô vào trung tâm Thủ đô rợp bóng cờ hoa và đèn mầu nhấp nhánh trên các cành cây ven hồ Hoàn Kiếm. Hai thằng nhếch nhác, hai thằng nhà quê rảo bước trên đường, lòng rộn ràng, vui thích, hớn hở ra mặt. Hắn quên đi nỗi nhớ nhà mà mấy phút trước đây hắn còn nặng trĩu. Hai bên đường từ cầu Mới đến ngã tư Sở, qua ấp Thái Hà đến ngã tư ô cầu Dền, nhà nhà đóng cửa. Thỉnh thoảng có vài đứa trẻ thò đầu ra cửa ném pháo ra đường. Mùi thơm của thức ăn từ các nhà toả ra thơm phức. Cái đói và sự thèm ăn, khát uống tăng lên bội phần. Giá như ngày ấy cha nghe theo lời mời của bác Tôn Quang ra làm việc cùng bác ấy; cha mẹ mình có nơi ăn, chốn ở như bao người ngoại xứ, chân đất, mắt toét tràn về Hà Nội sau giải phóng thì hay biết mấy, đâu đến nỗi giờ này, hai
thằng đói khát, thèm ăn, thèm uống, thèm tổ ấm gia đình, đang lang thang trên đường!
Tôi và Trân đi bộ mải miết. Gần giao thừa mới đến bờ hồ Hoàn Kiếm. Bờ hồ đông nghịt người đi đón giao thừa và hái lộc. Hai thằng nắm chặt tay nhau, len lỏi trong dòng người tràn lên cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn. Hai thằng như treo mình trên cánh tay, trên thân người bên cạnh. Tôi bảo Trân: “Chúng mình phải cầm đôi guốc cho chắc, không thể đi guốc được đâu. Họ chen mất guốc, khi về đi chân đất thì chết đấy”. Chúng tôi, một tay cầm guốc giơ qua đầu, một tay giữ chặt lấy nhau chen lấn cùng thiên hạ. Cây trong đền Ngọc Sơn trụi lá, không còn lộc để mà hái. Chỉ hái được mùi mồ hôi của thiên hạ chen nhau. Mùi hôi nách trộn lẫn với mùi nước hoa của mấy bà đầm Nga theo chồng sang đất Việt làm chuyên gia, làm chúng tôi ngạt thở. Vào đền đã vất vả, ra khỏi đền còn vất vả hơn. Dòng người đi ra, chen lấn dòng người đi vào. Dòng người đi ra, hai tay giơ cao lên trời để bảo vệ cành lộc. Lộc của chúng tôi là đôi guốc mộc vẹt gót. Dòng người đi vào, mong sao vào được đền để vặt những cành cây trụi lá. Hai thằng mải chen nhau quên cả đói. Không biết chiếc áo mình bị rách vai. Tay vẫn phải nắm chặt tay nhau và vẫn phải khư khư giữ chặt đôi guốc. Đôi guốc mộc quý vô giá của chúng tôi không thể để mất. Nó là vật cứu cánh của đôi chân. Tê dại vì rét buốt. Tê dại vì đi bộ. Tê dại vì đói nghèo. Tê dại vì nhớ mẹ, nhớ em, nhớ bàn thờ cha, không biết có gì để cúng trong mấy ngày tết! Ra khỏi cầu Thê Húc, trời bắt đầu mưa phùn nặng hạt. Gió rét xua tan cái nóng lúc chen lấn, cái lạnh bắt đầu ngấm vào da thịt. Những giọt nước mưa thấm vào tấm áo mỏng vốn dĩ đã không đủ ấm, giờ càng rét hơn. Hai thằng chúng tôi xiết chặt vai nhau. Người run lên bần bật. Không còn cái háo hức đi đón giao thừa nữa. Giờ chỉ còn sự mệt nhọc, cô đơn và lạnh giá. Đói, đói và thèm ăn. Chúng tôi ăn bằng sự tưởng tượng. Sống bằng tưởng tượng. Nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ em bằng tưởng tượng. Tất cả mọi cố gắng cũng chỉ xua đi trong chốc lát. Cái buồn, cái đói, cái thèm ăn, sự cô đơn lại xâm chiếm nỗi lòng của chúng tôi. Chúng tôi vừa ôm nhau, vừa đi, vừa khóc, khóc chán rồi cười, cười tràn cả nước mắt nước mũi lẫn với nước mưa. Hai thằng mải miết đi. Hai đôi guốc lẹp xẹp xiết trên đường nhựa đầy nước, đầy bùn, có cả mồ hôi và máu của những kẻ sống tha phương như chúng tôi. Qua được cầu Mới. Đến ga tầu điện Ngã Tư Sở, mệt quá, chúng tôi trèo lên toa tầu để không, ngồi nghỉ một lát cho đỡ mệt. Đèn điện hắt ánh sáng vàng vọt, không đủ soi rõ mặt người. Trong toa tối om như hũ nút. Trân đi trước, tôi đi sau. Vừa bước đi được vài bước, Trân ngã sóng soài, kéo tôi ngã theo. Tôi ngã sấp, nằm trên một đống mềm mềm, lạnh ngắt. Hai thằng lóp ngóp bò dậy, căng mắt nhìn một lúc mới thấy trên sàn tàu điện một lũ người đói rét. Họ ôm nhau nằm co quắp, trên người không mảnh chăn. Rơi rớt trên sàn, mấy chiếc bao tải họ nhặt được từ các túi buộc sau xe bò, xe ngựa hứng phân. Họ nằm yên ắng, không cựa quậy, không tiếng rên. Hầu như không còn thở, mặc dù họ còn sống. Thậm chí họ còn thức. Tôi bảo với Trân: “Chúng mình còn may mắn hơn họ, còn có đi, có về, về còn chỗ dung thân”. Trân ừ một tiếng tràn đầy nước mắt. Chúng tôi an ủi nhau, vui với nhau, niềm vui nhỏ nhoi đến thế thôi! Hai thằng về đến trường vừa đúng bốn giờ sáng. Cổng trường đóng kín. Hàng rào bằng nứa, đâm tua tủa lên trời như những ngọn giáo chọc vào làn mưa bụi. Hai thằng phải chui qua hàng rào vào nhà. Phòng thường trực đóng kín cửa chìm trong mưa bay. Mấy ông bảo vệ người khu Năm uống rượu say để quên đi nỗi nhớ vợ con nơi quê nhà, đang vùi đầu trong gối. Có tiếng ú ớ vọng ra, ai đó đang mơ, chắc là mơ thấy Mỹ - Diệm lê máy chém chặt đầu vợ con họ? Hai thằng lặng lẽ khoác vai nhau vào nhà. Cởi vội quần áo thấm đẫm nước mưa, lau chân (không có nước) rồi nhảy vội lên giường. Trùm kín chăn, ôm nhau ngủ. Khi tỉnh dậy, đã gần mười hai giờ trưa. Nhìn vào mặt nhau, trên mặt hai đứa đầy nước mắt. Trong giấc ngủ, chúng tôi đều mơ được về với mẹ. Có lẽ nỗi lòng của chúng tôi mách bảo chúng tôi về nỗi nhớ nhung khôn nguôi ấy.
Hai thằng không rửa mặt, xách bát lên nhà ăn. Lật chiếc lồng bàn lên, hai suất ăn còn lại lạnh ngắt, có dưa hành, thịt lợn, dò, chả, bánh chưng. Nhưng tất cả đều đã đóng băng. Đói mà phải ăn, ăn cho đỡ đói, đỡ tủi thân. Cái thân xa nhà, xa cha mẹ, xa cái bếp thân thương của nhà mình! Chiều mồng một. Trân được anh chị nó đến đón đi, còn lại mình tôi. Đang thơ thẩn, thẩn thơ, chưa biết làm gì thì anh Bồi đến. Anh đưa tôi về doanh trại pháo cao xạ của anh đóng trên cánh đồng Láng. Doanh trại của anh cũng chẳng khác gì trường tôi. Chỉ có mình anh trực trong hầm pháo. Trên bàn la liệt thức ăn của mấy ngày tết. Hai anh em ngồi ăn, chuyện trò với nhau một lúc. Hết chuyện, tôi xin phép anh về trường. Trời đã tối hẳn. Tôi chui lên giường trùm chăn. Đêm mồng một tết, trời tối đen như mực. Những ngọn đèn vàng vọt treo trên các cột điện quanh nhà, không đủ soi sáng cho cái không gian vô tận ấy. Bao nhiêu chăn của bạn bè, tôi đắp hết lên nguời mà vẫn rét. Cái rét không cắt nổi da thịt tôi. Cái rét trong lòng làm tôi tê tái, đau đớn, xót xa đến cùng cực. Tôi cô đơn. Thể xác tôi lang thang một mình trong đêm tối, trong ngôi nhà lá lạnh lẽo, trong môi trường xa lạ. Một thế giới hiu quạnh mênh mông. Nó là cõi tối tăm nơi hạ giới mà tôi đang tồn tại. Tôi tuyệt vọng. Tôi không khóc, vùng chăn ngồi dậy. Bóng tối xung quanh ập đến. Lạnh giá hơn, cô đơn hơn. Tôi gào lên“Mẹ ơi!”và nằm vật xuống trong đống chăn lạnh ngắt. Tôi đang đi trong mơ. Bỗng có tiếng gọi của ai đó, tôi tỉnh dậy. Đã mười giờ sáng mồng hai tết, Hạnh đến tìm tôi. Gặp được ông em họ mừng vô kể. Hai anh em rủ nhau đi chơi phố. Loanh quanh một lúc rồi ai về nhà nấy. Tôi lại lê đôi guốc mộc lên tàu điện về trường. Ngày mồng ba tết, các bạn lác đác về trường. Cái tết đã qua đi, trở lại cuộc sống thường nhật. Học và chỉ có học.
Sau hơn năm mươi năm, đọc lại đoạn nhật kí này, tôi như sống lại đoạn đời học sinh ngày ấy. Xúc động làm tôi muốn khóc. Tết, cái tết đầu tiên ấy không bao giờ trở lại. Chỉ có bản nhạc hiệu“Giải phóng Điện Biên”của đài tiếng nói Việt nam, tiếng kẻng vang ra từ quả bom tấn, treo đầu nhà thường trực, như cái xác người treo cổ của trường Kỹ thuật ngày ấy vẫn làm tôi kinh hãi ./.

Hà Nội Tết Canh Dần 2010

.....

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỘC THÂN
TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN LÂM DIỄM.

Những năm tháng sống và làm việc ở vùng sơn cước, cứ chập tối, sau khi tắm rửa, cơm nước xong, chúng tôi thường tụ tập chuyện phiếm. Hết chuyện tào lao chi khươn, quay về đàm đạo văn chương. Bạn tôi không thích hai câu tuyên ngôn của cụ Nguyễn Công Trứ: “Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Anh bảo, phải viết là: “Kiếp sau ta cứ làm người / Nhưng ta sẽ sống cuộc đời độc thân”. Tôi bảo anh; “Theo giáo lý đạo Phật, tội nặng nhất là tội không có con nối dõi tông đường. Chưa trải nghiệm cuộc sống, mình chưa biết được sống độc thân vui sướng hay cô đơn. Ngẫm ra trái với lẽ đời. Để xem, nếu hai câu anh đọc, vận vào ai trong số chúng ta. Chỉ có khi gần đất xa trời, người ấy sẽ chứng minh cho điều hôm nay anh đọc”. Cả bọn cười vang. Giải tán, ai về giường người ấy, nằm suy ngẫm về mình. Những chuyện tào lao trong sự nhàn rỗi qua đi, trôi vào dỹ vãng, không ai để ý. Rồi, trời đất đổi thay, mỗi người chúng tôi đi theo đường riêng của mình. Tôi và bạn tôi về Hà Nội. Chúng tôi gắn bó với nhau thân thiết hơn. Chuyện to, chuyện nhỏ, chuyện tào lao, bình phẩm thơ văn bên mâm cỗ, uống rượu bằng bát…cứ vui nổ trời.
Mỗi lần đến nhà tôi chơi, anh cho tôi đọc một vài thứ. Những bức thư tình người bạn gái đầu tiên viết cho anh dã ngả mầu mực. Anh bảo: “Nàng K (kí tự đầu của tên nàng) rất đẹp, cao lớn, mũi lai tây, cao và thẳng, mắt màu xanh lơ, rất đa tình. Tụi mình chuẩn bị làm đám cưới thì nàng bỏ mình đi lấy chồng. Chồng nàng cùng học đại học với mình”. Anh đưa thêm cho tôi mấy truyện ngắn, dịch của các nhà văn Nga. Rất hay. Đề tặng K thân yêu. Tất cả đã ngả màu vàng úa. Có lẽ thư và truyện đã cất kỹ trong đáy hòm từ lâu và cả trong đáy lòng anh qua bao năm tháng Mối tình đầu sâu đậm ấy qua đi. Anh lặng lẽ tìm kiếm những mối tình khác.
Người con gái thứ hai đến với anh, nàng đã lấy chồng. Chồng nàng đi lính, chém tre, đẵn gỗ trên ngàn. Sự tình éo le ấy qua đi rất nhanh, khi chồng nàng về phép và nàng sinh con.
Em cầm cưa. Cô bé mới mười sáu tuổi, anh thường gặp cầm chiếc cưa đi trên đường. Chàng si tình này đặt luôn cho nàng “Em cầm Cưa”. Tôi trông thấy anh, người khổng lồ, vai vác cưa, tay nắm tay đứa con nít mới lớn đi trên đường, mặt hớn hở, tươi rói như cha dắt con đến trường. Nghịch cảnh hay nghịch lý, tôi không phân giải được. Chỉ thấy, sau vài tuần họ không dắt tay nhau đi trên đường nữa. Có lẽ cha mẹ cô bé rầy la, cấm đoán.
Em Bồ quân. Rất xinh, má đỏ như hai quả bồ quân, từ mảnh đất “Trèo cọ” lên ở với chị gái. Chàng gặp nàng đi từ dưới dốc lên. Ngẩn người một lúc, anh vỗ vai tôi bảo: “Đẹp quá, tròn như quả bồ quân”. Anh bỏ tôi đứng đó, thoăn thoắt chạy lên dốc theo nàng. Cái bụng phệ lắc lư, rất bắt mắt. Tối hôm sau, trăng mười bốn, sáng vằng vặc, anh mỉm cười bảo tôi: “Mình đi hái bồ quân đây”. Qua hai mùa trăng, không biết anh có cắn được miếng nào không, tôi thấy quả bồ quân rơi vào túi anh chàng phòng bên.
Anh hay trở về cơ quan cũ công tác. Không ngủ ở nhà khách, anh thường trọ ở nhà bố mẹ nàng có làn mi cong, dài, lông mày đen và rậm, mái tóc xoăn tự nhiên, khuôn mặt đầy dặn, trắng trẻo. Anh đặt tên nàng là Mây. Nàng Mây đã có chồng đi lính, đánh nhau ở mặt trận Quảng Đà. Bị thương, giải ngũ về cơ quan cũ làm việc. Biết chuyện riêng tư của vợ, hai người ly dị nhau, nàng nuôi đứa con trai. Anh chồng chuyển công tác sang đơn vị khác. Nàng hay về công tác ở Hà Nội. Nàng và chàng, tay nắm tay dạo khắp phố phường. Ba bốn năm sau, họ vẫn thế. Đứa con trai nàng đã tốt nghiệp Đại học ở nước ngoài về nước. Họ bỗng dưng đôi ngả. Có lần tôi hỏi, nàng lặng im không nói. Dụi mắt, lắc đầu nàng thở dài: “Duyên phận anh ạ. Anh ấy thông minh hiếm có, hào hoa, to lớn, anh thích ngắm nhìn say đắm phụ nữ. Bề ngoài người ta tưởng anh yêu họ tha thiết nhưng không, anh không bao giờ nói chữ yêu với họ. Anh chỉ lướt qua cuộc đời họ trong chốc lát rồi lại lướt di…”. Nàng ngừng một lát rồi nói lảng sang chuyện khác: “Em vừa mua được tập thơ Gửi hương cho gió của Xuân Diệu. Anh chuyển tặng anh ấy hộ em”.
Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Chẳng mấy chốc tôi đã về hưu. Bạn tôi cũng gần tới đich. Thông minh đến thế. Tài giỏi đến thế. Trí nhớ tuyệt vời đến thế. Bỗng dưng anh mắc bệnh trầm cảm. Lấy rượu giải sầu. Tuổi trẻ uống rượu bằng bát, tuổi già uống rượu cả chai. Say để tỉnh. Tỉnh anh say. Nỗi bất hạnh ập đến rất mau chóng. Anh đột quỵ. Một mình trong căn hộ khép kín, cửa đóng then cài, chai rượu lăn lóc bên canh. Bạn tôi từ tỉnh xa vừa đến cửa nhà anh, nghe tiếng kêu rên. Gọi điện cấp cứu và thuê người phá cửa. Người nhà đến, sáu người không khiêng nổi anh xuống gác. Người bác sĩ cấp cứu, một mình cõng anh xuống xe. Mấy tháng, hết bệnh viện này sang bệnh viện khác, anh liệt nửa người. Năm năm rồi, anh nhờ vào sự chăm sóc tận tình của người phụ nữ nông thôn giúp việc. Trời cho anh người giúp việc, cảm nhận văn chương rất khá. Anh có người hầu, người bạn tri âm. Sự đời lắm điều trái khoáy. Chị giúp việc phải về quê vài ngày. Người nhà vội đưa anh vào viện dưỡng lão. Anh bị cấm cố. Hết, hủy hoại hết tất cả rồi, bạn ơi!
Tôi đến thăm anh. Tủi lắm. Anh bảo:“Tạo hóa biến đổi khôn lường: Kiếp sau ta cứ làm người / Nhưng ta sẽ sống cuộc đời độc thân. Ứng ngay vào mình. Độc thân! Ôi độc thân ! Giờ mình thấm thía lắm rồi. Cụ Trứ mới là người hiểu đời, hiểu người ”. Anh bảo tôi gãi lưng cho anh. Anh lắc đầu bảo tôi: “Anh không biết gãi, chỉ có cô N…(cô giúp việc) biết gãi thôi”. Câu nói của anh làm tôi nhớ đến lần tới thăm ông dượng (nguyên là cán bộ cấp cao của Quốc Hội ) bị ốm nằm viện. Người chăm sóc cuối đời là bà vợ thứ tư của ông. Tôi hỏi ông: “Sao dượng lấy nhiều vợ thế?” Ông Bảo: “Bao giờ các cháu bằng tuổi dượng và nằm viện như dượng mới hiểu. Dượng có mười sáu người con, không đứa nào nấu cho dượng bát cháo hợp khẩu vị. Không đứa nào biết bố ngứa lưng chỗ nào mà gãi cho bố. Chỉ có cô cháu, là vợ của dượng làm được điều mà dượng cần”.
Tôi ngậm ngùi, thương anh, xót thương cho anh, cuối đời mới cảm nhận được sự cần thiết nhất của cuộc đời của mình: Bàn tay của một người đàn bà!
Hà Nội 8 - 2011
NLD

.
Kính gửi bác Nguyễn Lâm Diễm:
Ban biên tập VNTĐ đang đọc các sáng tác của bác.
Kính chúc bác luôn mạnh khỏe!
Kính!

.
ONLINE_USERS_TOTAL_GUESTS (Thông tin cập nhật mỗi 5 phút)
Kỷ lục online cùng lúc là 122 người, vào ngày 06 Tháng 3 2017, 10:06

Đang xem chuyên mục này: 10 khách